Từ khóa: tin tức môi trường

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

“Khẩu trang giúp chúng ta giảm tiếp túc với bụi trong không khí ở mức độ nhất định. Nhưng khẩu trang vải thường dùng có hiệu suất bảo vệ kém”, các tác giả nghiên cứu kết luận trong bài báo đăng hôm 18/8 trên tạp chí Khoa học Phơi nhiễm và Dịch tễ Môi trường.

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Theo UPI, khẩu trang là vật dụng phổ biến tại nhiều thành phố ở châu Á, nơi người dân phải đối phó với tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu tại Đại học Massachusetts Amherst, Mỹ, các loại khẩu trang thông dụng nhất có mức độ bảo vệ hạn chế trước bụi có hại.

Kết quả thử nghiệm của nhóm nghiên cứu cho thấy những chiếc khẩu trang vải đắt tiền nhất ngăn chặn được 65% hạt bụi kích thước lớn, nhưng chúng thể không giúp người đeo tránh khỏi hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 2,5 micromet. Còn những chiếc khẩu trang rẻ tiền phổ biến ở Nepal, Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á có tác dụng bảo vệ kém.

“Khẩu trang giúp chúng ta giảm tiếp túc với bụi trong không khí ở mức độ nhất định. Nhưng khẩu trang vải thường dùng có hiệu suất bảo vệ kém”, các tác giả nghiên cứu kết luận trong bài báo đăng hôm 18/8 trên tạp chí Khoa học Phơi nhiễm và Dịch tễ Môi trường.

Richard Peltier, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết khẩu trang mang đến cho con người cảm giác an toàn giả tạo, đem lại cho họ sự tự tin khi đến những nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng.

“Hàng triệu người đeo khẩu trang và họ cảm thấy an toàn hơn. Nhưng khẩu trang không thể bảo vệ họ khỏi khí thải từ chiếc xe tải động cơ diesel ngay bên cạnh”, Peltier nói.

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

“Nếu không có biện pháp thay đổi, làn khói mù chết chóc này sẽ tiếp tục làm tăng tỷ lệ tử vong lên mức đáng sợ chỉ sau vài năm”, Yuyun Indradi, nhà vận động bảo vệ rừng của tổ chức Hòa bình xanh Indonesia, nhận xét.

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

Một đám khói mù do nạn đốt rừng có thể là nguyên nhân khiến 100.000 người chết sớm vào năm ngoái, BBC hôm nay đưa tin. Hơn 90% số trường hợp tử vong ở Indonesia, phần còn lại là công dân các nước Malaysia và Singapore, theo nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học Harvard và Columbia, Mỹ.

Tình trạng ô nhiễm không khí ở Indonesia ngày càng trầm trọng do nạn đốt rừng lấy đất canh tác. Khói mù lan rộng khắp khu vực Đông Nam Á và tồn tại suốt vài tháng vào năm 2015.

Nghiên cứu sắp công bố trên tạp chí Environmental Research Letters sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh và mô hình máy tính về những ảnh hưởng tới sức khỏe để xác định tỷ lệ chết sớm. Nhóm nghiên cứu nhận định số người có nguy chết sớm nằm trong khoảng 26.300 – 174.300 và tỷ lệ trung bình hàng năm là 100.300 ca. Báo cáo của họ tập trung vào tác động lên sức khỏe của người trưởng thành và chỉ đánh giá ảnh hưởng của PM2.5, các hạt bụi lơ lửng có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 µm (micromet) có thể bị hít vào phổi.

Cơ quan quản lý thảm họa Indonesia cho biết hơn 43 triệu người dân nước này phải tiếp xúc với khói mù và nửa triệu người bị nhiễm trùng đường hô hấp nặng.

“Nếu không có biện pháp thay đổi, làn khói mù chết chóc này sẽ tiếp tục làm tăng tỷ lệ tử vong lên mức đáng sợ chỉ sau vài năm”, Yuyun Indradi, nhà vận động bảo vệ rừng của tổ chức Hòa bình xanh Indonesia, nhận xét.

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Xí nghiệp Thoát nước số 4, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội tiếp tục áp dụng công nghệ này để làm sạch hồ Hoàng Cầu và Văn Chương.

Xí nghiệp Thoát nước số 4, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội đang làm sạch các hồ Hoàng Cầu, Văn Chương bằng công nghệ Redoxy-3C tân tiến mới của Đức.

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Sau khi thử nghiệm xử lý ô nhiễm nước hồ bằng công nghệ Redoxy-3C của Đức tại các hồ Hố Mẻ, Ba Mẫu, Giáp Bát và thu được kết quả khả quan, chiều 25/9, Xí nghiệp Thoát nước số 4, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội tiếp tục áp dụng công nghệ này để làm sạch hồ Hoàng Cầu và Văn Chương.

Những thùng chế phẩm được sản xuất theo đơn đặt hàng độc quyền của UBND TP Hà Nội từ Đức. Đây cũng là lần đầu tiên một công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường được ứng dụng tại Việt Nam. Redoxy-3C là chế phẩm của Đức, thân thiện với môi trường, chế phẩm có 3 tác dụng là loại bỏ các cation kim loại như Al, As, Cd, Cu, Pb… loại bỏ các armoni oxy hóa các chất ô nhiễm vô cơ và hữu cơ.

Công nhân Công ty Thoát nước Hà Nội kiểm tra các thiết bị và đổ chế phẩm vào máy sục, chế phẩm này sẽ được hòa tan và sục thẳng xuống lòng hồ. Hiện tại, chế phẩm này đã được thử nghiệm ở 22 hồ, ao của Hà Nội.

Việc thực nghiệm tại hiện trường chế phẩm Redoxy-3C theo 3 bước gồm lấy và phân tích mẫu trước khi xử lý, phun và rải chế phầm Redoxy-3C, tiếp theo là phân tích mẫu sau thử nghiệm.

Thông số thủy lý hóa không vượt ngưỡng cho phép để các loài sinh vật thủy sinh sinh trưởng và phát triển. Các loài thực vật nổi trên hồ không bị ảnh hưởng, ô xy trong nước nhiều hơn…

Trước đó, Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội đã tiến hành xử lý nước bị ô nhiễm ở 2 hồ tại thôn Đại Hòa (huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Đây là 2 hồ đầu tiên ở ngoại thành Hà Nội được thí điểm xử lý nước bằng chế phẩm từ Đức.

Sau thử nghiệm, độ PH kiềm, nồng độ TSS, BOD, COD… và mật độ coliform trong các hồ giảm, thông số thuỷ lý hoá không vượt ngưỡng, các loài sinh vật, thuỷ sinh sinh trưởng và phát triển tốt.

Trước khi sử dụng chế phẩm, các ao hồ sẽ được lấy mấu nước nhiều lần, ở các thời điểm khác nhau để phân tích và xử lý thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết sau khi xử lý nước bằng chế phẩm Redoxi-3C, thông thường sau 24h, nước hồ sẽ trong xanh trở lại. Trước khi sử dụng chế phẩm, các ao hồ sẽ được lấy mấu nước nhiều lần, ở các thời điểm khác nhau để phân tích và xử lý thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Khi xác định rõ liều lượng chế phẩm cần thiết một các khoa học lực lượng chức năng mới triển khai trực tiếp tại các ao, hồ. Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết, việc ứng dụng công nghệ Redoxy-3C mang lại hiệu quả, chi phí lại giảm khoảng 2/3 so với trước đây.

Ngôi nhà nội thất đế vương của đại gia phế liệu

Ngôi nhà nội thất đế vương của đại gia phế liệu

Ngôi biệt thự có 6 con gà vàng của đại gia Nguyễn Quốc Thanh được ví như tòa lâu đài độc đáo nhất nhì Hà Nội, không ít người còn so sánh tòa lâu đài này đẹp hơn rất nhiều so với lâu đài của Bầu Kiên ở Hồ Tây hay lâu đài Tổng Hải Sơn của đại gia ở Hà Nam.

Ngôi nhà nội thất đế vương của đại gia phế liệu

Ngôi nhà nội thất đế vương của đại gia phế liệu

Chủ nhân của “tòa lâu đài” gà vàng là ông Nguyễn Quốc Thanh (SN 1957 – Đinh Dậu, quê gốc ở Thanh Hóa). Ông khởi nghiệp từ buôn bán phế liệu cách đây hơn 10 năm rồi sau đó mở rộng ngành nghề kinh doanh.

Tọa lạc bên bờ sông Tô Lịch gần đường Hoàng Quốc Việt – Hà Nội, ngôi biệt thự có diện tích khoảng 400m2, được xây cao 5 tầng, với những nét hoa văn trang trí được thiết kết theo phong cách lâu đài cổ ở nước ngoài. Các mặt tường của tòa nhà đều được trang trí họa tiết hết sức công phu.

Ông Thanh được nhận xét là một người giản dị và thẳng tính. Hiện tại ông đang sống cùng vợ và các con, 5 người con của ông cũng đều học hành thành đạt và có công việc ổn định. Thật khó có thể tin được vị đại gia là chủ của một chuỗi các cửa hàng kinh doanh sắt thép, lại từng là một người buôn bán phế liệu tại Hà Nội.

Sau gần 10 năm buôn phế liệu ở đất Hà thành, ông đã để ra một số vốn làm ăn, rồi mạnh dạn đầu tư kinh doanh sắt thép. Nhờ có kinh nghiệm buôn bán và chịu khó mở rộng mối quan hệ nên vợ chồng ông Thanh giàu lên nhanh chóng. Khi ngành bất động sản và xây dựng còn thịnh vượng thì việc buôn bán của ông Thanh cũng phát triển như “diều gặp gió”.

Ngôi biệt thự có 6 con gà vàng của đại gia Nguyễn Quốc Thanh được ví như tòa lâu đài độc đáo nhất nhì Hà Nội, không ít người còn so sánh tòa lâu đài này đẹp hơn rất nhiều so với lâu đài của Bầu Kiên ở Hồ Tây hay lâu đài Tổng Hải Sơn của đại gia ở Hà Nam.

Trung Quốc đang hủy hoại môi trường vì kinh tế

Trung Quốc đang hủy hoại môi trường vì kinh tế

Tốc độ phát triển cao của nền kinh tế Trung Quốc trong nhiều năm liên tục đã khiến họ tự hào là quốc gia dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực ở khu vực cũng như quốc tế. Nhưng để đạt được điều đó họ đã phải trả giá rất lớn về môi trường.

Các chuyên gia cho rằng, đến một lúc nào đó cuộc khủng hoảng môi trường sẽ xảy ra gây thảm hoạ nghiêm trọng và chặn đứng sự phát triển này.
Tại Trung Quốc, ao hồ bốc hơi, sông khô cạn, 75% rừng bị chặt phá, đất trên bề mặt mất đi lớp màu mỡ, biến thành sa mạc. Cát bay vào thành phố, có khi sang cả các nước láng giềng. Đất nước này đang phải trả giá cho sự tăng trưởng kinh tế quá nhanh và rất lo lắng vì nhu cầu tiêu dùng không thể kiềm chế.

Trung Quốc đang hủy hoại môi trường vì kinh tế

Trung Quốc đang hủy hoại môi trường vì kinh tế

Giáo sư Khoa Lịch sử Trung Hoa hiện đại Trường ĐH Oxford là Karl Hert nhận định về sự phát triển kinh tế và công nghiệp của nước này trong cuốn sách Trung Quốc đi đến đâu, thế giới đi đến đấy như sau: “Năm 1986, lần đầu tiên tôi đến Thượng Hải. Ở đây chỉ có vài ngôi nhà chọc trời. Sau 20 năm, số lượng những ngôi nhà như vậy lên tới 4.000, nghĩa là nhiều gấp đôi New York. Diện tích các tòa nhà văn phòng và chung cư ở Bắc Kinh lớn gấp ba khu Mahattan ở New York”.

So sánh Trung Quốc với nước Mỹ chẳng có gì là bất ngờ. Họ đang “đuổi kịp và vượt” Mỹ về nhu cầu tiêu thụ: Thịt và thép họ tiêu thụ gấp đôi Mỹ. Ngũ cốc và than thì tương đương. Người Trung Quốc thích sống theo các tiêu chuẩn Mỹ và xu hướng ấy là không thể ngăn lại được.

Nếu như số ô tô ở Trung Quốc tính theo đầu người tăng tiến đến mức ngang nửa với Mỹ thì phần đất phải trải nhựa vừa vặn bằng đất trồng trọt. Karl Hert cho rằng nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc chẳng bao lâu nữa sẽ vượt khả năng khai thác của toàn thế giới.

Trong cuốn sách của mình, tác giả dành một chương để nói về các vấn đề sinh thái ở Trung Quốc. Chuyện này không kém phần ấn tượng. Ví dụ nhu cầu thịt và len tăng dẫn tới xuất hiện những đàn bò, dê và cừu khổng lồ khiến các cánh đồng cỏ vùng trung du bị hủy diệt. Lớp đất bề mặt bị cày xới, biến thành bụi và cát. Thủ đô Bắc Kinh mỗi năm bị hàng triệu tấn cát thổi tới và những năm gần đây sa mạc nuốt chửng nhiều vùng nông thôn.
“Có thể nói, Trung Quốc đã trở thành nước xuất khẩu bụi chủ yếu trên thế giới. Hàng triệu tấn bụi và bồ hóng hàng năm theo dòng không khí bay sang Hàn Quốc và Nhật Bản, thậm chí sang cả phía Tây nước Mỹ”, Karl Hert viết.

Nguồn nước bị hút đến khô kiệt và để lại những khoảng trống rỗng dưới lòng đất là hậu quả của tình trạng này. Tháng ba vừa qua, Bộ đất đai và tài nguyên Trung Quốc ra thông báo: Không dưới 50 thành phố đang bị lún xuống, trong số này có những thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Hàng Châu, Tây An.

Tình trạng ấy không phải chỉ mới bắt đầu. Ví dụ so với trước đây 100 năm, Thượng Hải đã bị hạ thấp xuống 3 mét và tốc độ lún ngày càng tăng nhanh. Trong 30 năm qua, thành phố Giang Châu, tỉnh Hà Bắc, lún 2,4m. Một bệnh viện ở địa phương trước có 3 tầng nay chỉ còn hai vì một phần của tòa nhà chìm dưới mặt đất. Cầu cống, đường sắt bị phá hủy, nhà cửa bị nứt nẻ.

Thượng Hải đã phải bỏ ra 13 tỷ đôla để sửa chữa những vết nứt trên tường các ngôi nhà, củng cố nền móng và sửa chữa đường sá.
Do tốc độ tăng trưởng kinh tế quá cao, nước ở Trung Quốc bị khai thác quá nhiều. Các hồ nước bị bốc hơi, băng tan chảy, sông cạn khô. Karl Hert dẫn ra hàng loạt số liệu gây sốc: Trong 20 năm qua tại tỉnh Hà Bắc, xung quanh Bắc Kinh, từ hàng ngàn hồ chỉ còn vài chục. Nước sông bị ô nhiễm nghiêm trọng. Riêng con sông Dương Tử lớn nhất châu Á đã bị đổ vào hàng tỉ tấn nước thải chưa qua xử lý.

Giá hàng hóa của Trung Quốc rẻ nhất thế giới một phần là do bỏ qua yếu tố xử lý môi trường. Cái giá thực mà người dân phải trả để mở rộng thị trường thế giới lớn hơn rất nhiều so với giá bán hiện nay.

Ví dụ, hiện nay với 100 đôla có thể mua được vài chiếc áo len lông cừu trong khi ở các nước khác đắt hơn gấp bội. Để sản xuất ra một chiếc áo len như vậy cần lông của 2-3 con cừu. Nếu diện tích các bãi chăn thả ở Trung Quốc cũng bằng ở Mỹ thì số đầu gia súc lớn mà họ nuôi trên đó sẽ nhiều hơn 10 triệu và số dê cừu nhiều hơn đến 400 nghìn con.

Karl Hert nhận xét rất đúng là, hàng triệu cánh đồng nuôi bò và dê cừu ở đây khó tưởng tượng chúng phải chen chúc nhau như thế nào, khiến ta có cảm giác đó không phải những bãi chăn thả mà là chuồng nuôi nhốt chúng.

Các vùng đất phì nhiêu đã biến mất và tình trạng khát nguyên liệu để đóng đồ gỗ xuất khẩu làm người ta đã “bức tử” 75% rừng. Chính phủ Trung Quốc cố gắng ngăn chặn nạn chặt phá rừng và điều đó buộc người Trung Quốc phải kiếm củi đun từ những vùng biên giới và mua bất hợp pháp gỗ từ các khu rừng trồng chưa đến kỳ khai thác, chủ yếu từ nước Nga.

Nói chung thảm họa môi trường mà hôm nay Trung Quốc đang phải chịu đựng liên quan trực tiếp đến các nước láng giềng. Đại diện của Bộ Môi trường Trung Quốc đã nói một cách công khai rằng trong vài thập kỷ tới sẽ có đến 150 triệu người phải sang nước khác để “tị nạn môi trường”. Đội quân những người Trung Quốc phải bỏ nhà ra đi, sẽ đến định cư tại đâu? Karl Hert nói rằng, không nghi ngờ gì nữa, đó là Siberia (LB Nga).

Ngoài việc mỗi năm tăng thêm 4 nghìn kilomet vuông sa mạc, các thành phố ở Trung Quốc còn bị đe dọa bởi hàng núi rác. Xung quanh Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân thải ra không dưới 7 nghìn tấn rác mỗi ngày. 70% số máy tính bỏ đi, những đồ chất dẻo đã qua sử dụng và phế thải sản phẩm công nghệ đang ùn ùn đổ vào Trung Quốc. Những người dân địa phương – chủ yếu là trẻ em – đang cố sức moi móc từ đó ra những kim loại quý. Một số thành phố giáp ranh với Hongkong đã trở thành nơi hứng lấy những phế phẩm của mặt hàng điện tử thải loại.

Cuối cùng, Karl Hert rút ra kết luận rất bi quan. Nền kinh tế thế giới đang chờ đợi Trung Quốc tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhưng ít người nghĩ đến nó đang đi đến đâu. Trung Quốc không bị cô lập trong hệ thống, nên dù thế nào đi nữa thì những vấn đề về sinh thái của họ cũng sẽ ảnh hưởng tới các nước khác.