Từ khóa: ô nhiễm môi trường

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Tỷ phú Bill Gates là một trong những nhà đầu tư trong nghiên cứu khí Carbon, nhắm tới một công nghệ công nghiệp có thể biến khí carbon thu giữ được trở thành nhiên liệu. Một công nghệ hứa hẹn, nhưng vẫn chỉ là những bước đầu trên con đường dài tới việc thay thế được tầm quan trọng của cây cối nói riêng và thực vật nói chung.

Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, ta có một đồng minh đắc lực và lâu đời nhất là cây cối. Công việc hàng ngày của chúng là hấp thụ khí carbon dioxide, giảm lượng khí nhà kính có hại tới môi trường. Nhưng với tình trạng chặt phá rừng như hiện nay và lượng khí thải vẫn thải ra đều đặn và ngày càng nhiều hơn, ta đang đòi hỏi những cái cây đó làm việc quá sức.

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Cây xanh

Theo như ông Christophe Jospe, trưởng ban kế hoạch tại Trung tâm Nghiên cứu Khí thải Carbon Bang Arizona, thì với tình hình hiện tại, cây cối không thể hấp thụ hết lượng carbon dioxide mà con người thải ra, trừ khi tất cả những vùng đất hiện có trên Trái Đất chúng ta có thể biến thành rừng rậm.

Vì thế, các nhà khoa học đang tìm ra một giải pháp mới, một “vị cứu tinh” để cứu rỗi loài người: họ mong muốn tạo ra cây có “siêu sức mạnh”. Đó là cây nhân tạo, một tia sáng mới giúp chúng ta trong cuộc chiến làm sạch môi trường, bởi lẽ ta không thể trông cậy vào việc con người sẽ xả bớt một lượng đáng kể khí carbon vào một trường được. Vì thế, một trong những lựa chọn được đánh giá cao và hữu ích là thu thập những khí thải carbon đó và tìm cách biến chúng thành cái gì có ích hơn, như là nhiên liệu.

Cây nhân tạo

Quay ngược thời gian lại 5 năm về trước, một nhóm các nhà nghiên cứu tại Boston và một số nhà thiết kế để đã vẽ ra ý tưởng tạo nên những “cây nhân tạo” trong thành phố. Ý tưởng của họ là những cái cây có thể lọc được khí carbon dioxide và thậm chí vẫn có thể có được bóng râm chứ không đơn thuần chỉ là những bộ lọc không khí được đặt khắp thành phố. Những cái cây nhân tạo đó sẽ được đặt tại những nơi đất khó trồng cây, những vỉa hè quá ít đất để cây có thể mọc.

Mặc dù nhóm nghiên cứu tại Boston có ý tưởng hay và đã tạo nên được những bản thiết kế đầu tiên, nhưng tìm được nguồn viện trợ lại không phải việc dễ dàng. “Không ai muốn là người đầu tiên bỏ tiền ra cả”, theo lời của Kimberly Poliquin, giám đốc dự án dựng cây nhân tạo. “Các nhà khoa học có thể nói rằng họ làm được điều đó, nhưng những nhà đầu tư luôn thắc mắc rằng liệu ‘điều đó’ có thể áp dụng vào thực tế hay không”.

Việc thu thập và lưu trữ khí carbon chưa phải là điều dễ dàng, chúng luôn yêu cầu lượng chi phí cao và vì thế, chính phủ cũng như các tổ chức môi trường cũng như các tổ chức công nghiệp khác vẫn chưa thể triển khai việc này trên diện rộng. Không sai khi nói rằng công nghệ này đã không còn đắt đỏ như nhiều năm trước, nhưng việc tạo nên cả “một rừng cây nhân tạo” thì vẫn còn là chuyện xa vời, bởi một cây nhân tạo như vậy có giá xấp xỉ 350.000 USD, theo như bà Poliquin nhận định. Mong muốn hiện tại của bà cũng như của đội ngũ nghiên cứu là tạo ra một mẫu thử trong vòng 1 tới 2 năm tới.

Cách thức để thu giữ khí carbon trong không khí cũng không ít. Một trong những cách ấy là lấy trực tiếp từ ống khói của các nhà máy. Một cách khác, cách thức mà các nhà nghiên cứu tại Boston đã nhắm tới, đó là hút và lọc khí carbon từ không khí. Theo như lý thuyết, một kilomet vuông cây nhân tạo có thể loại bỏ được 4 triệu tấn khí carbon một năm. Những con số ấy được Trung tâm Nghiên cứu Khí thải Carbon đưa ra và họ cũng đang phát triển một công nghệ lọc khí như thế.

Bảy dự án lớn về lọc và lưu trữ khí thải carbon tại các nhà máy sẽ được triển khai trong hai năm 2016 và 2017, phần lớn sẽ được thử nghiệm tại Mỹ và Canada. Nhưng cần đẩy nhanh tiến độ và mở rộng phạm vi áp dụng việc thu giữ khí thải để có thể có được những ảnh hưởng rõ rệt lên môi trường và khí hậu. Theo Viện Thu giữ Khí Carbon Toàn cầu thì với 15 dự án quy mô lớn toàn cầu như vậy, thì lượng khí carbon dioxide lọc được khỏi bầu khí quyển hàng năm sẽ là 28 triệu tấn. Và để giữ cho bầu khí quyển trong sạch, ta cần xử lý được 4 tỷ tấn khí carbon vào năm 2040 và phải đạt con số 6 tỷ vào năm 2050.

Trung tâm Nghiên cứu Khí thải Carbon đang phát triển một công nghệ lọc khí có hiệu quả gấp 1.000 lần cây trên mỗi một đơn vị sinh khối (biomass). Vẫn cần thêm thời gian, bởi lẽ khi công nghệ này hoạt động ở những khu vực có khí hậu lạnh hơn bình thường sẽ cần thêm chi phí.

Một khi công nghệ này được hoàn thiện, nhóm nghiên cứu ước đoán rằng chi phí để lọc khí carbon dioxide khỏi bầu không khí là 100 USD/tấn. Họ tập trung vào việc tạo ra một hệ thống lọc khí carbon dioxide hiệu quả và tiết kiệm được chi phí, hơn là cố gắng tạo ra một cây nhân tạo vừa lọc được khí vừa vừa đẹp mắt, dễ nhìn.

Và vì thế, công nghệ này vẫn cần phát triển thêm để có thể có được một chi phí hiệu quả và có khả năng phổ biến được toàn cầu. Từ năm 2007, Viện Thu giữ Khí Carbon Toàn cầu nói rằng việc đầu tư vào thu giữ khí carbon toàn cầu chỉ dưới 20 tỷ USD, chỉ bằng 1/100 số đầu tư vào năng lượng tái tạo.

“Công nghệ cây nhân tạo cần một bàn tay tài hoa như Mike Bloomberg, Bill Gates hay Mar Zuckerberg để đặt những bước đầu thành công trong vấn đề nghiên cứu này, để có thể hạ được giá thành của việc thu giữ khí carbon dioxide xuống”, như ông Jospe chia sẻ. “Cứ đưa tôi 100 triệu USD, tôi sẽ tiến hành đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ này một cách mạnh mẽ và chỉ trong 5 năm sau, bạn sẽ thấy được những sản phẩm thú vị bắt đầu xuất hiện trên thị trường”.

Tỷ phú Bill Gates là một trong những nhà đầu tư trong nghiên cứu khí Carbon, nhắm tới một công nghệ công nghiệp có thể biến khí carbon thu giữ được trở thành nhiên liệu. Một công nghệ hứa hẹn, nhưng vẫn chỉ là những bước đầu trên con đường dài tới việc thay thế được tầm quan trọng của cây cối nói riêng và thực vật nói chung.

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới “kêu trời”

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới "kêu trời"

Tháng 5/2000, phân nửa trong số 5.000 người dân sinh sống tại Walkerton, Canada ngã bệnh với 5 trường hợp tử vong khi phân bò lẫn vào nguồn nước giếng. Tình trạng ô nhiễm tại thị trấn bị giấu nhẹm, bỏ mặc người dân đối mặt với nhiều mối nguy hiểm hủy hoại thân thể.

Nhà vi sinh vật học Joan Rose, người từng giành giải thưởng uy tín thế giới về lĩnh vực nước sạch, hiện đang chìm trong cảm xúc lẫn lộn giữa sự thất vọng và lạc quan về tiến trình xử lý nguồn nước phục vụ dân sinh.

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới "kêu trời"

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới “kêu trời”

Tháng 5/2000, phân nửa trong số 5.000 người dân sinh sống tại Walkerton, Canada ngã bệnh với 5 trường hợp tử vong khi phân bò lẫn vào nguồn nước giếng. Tình trạng ô nhiễm tại thị trấn bị giấu nhẹm, bỏ mặc người dân đối mặt với nhiều mối nguy hiểm hủy hoại thân thể.

Nhà sinh vật học Joan Rose đến từ Đại học Michigan, vốn rất tỏ tường với những đợt bùng phát ô nhiễm nước nghiêm trọng trên thế giới cũng phải rùng mình trước thực trạng tồi tệ ở Walkerton.

“Đó là cú sốc lớn nhất đối với tôi. Walkerton là vùng nông nghiệp nhỏ bé. Người dân nơi đây rất dễ mến. Nhưng họ phải hứng chịu 2 mầm bệnh từ nguồn cấp nước. Họ không biết con cái mình đang yếu dần đi, có nguy cơ bị suy thận, thậm chí phải lọc máu suốt phần đời còn lại. Tôi đã nhìn thấy cảnh ô nhiễm hủy hoại người dân, thấy sự đau đớn hiện hữu trong đôi mắt của họ”, Joan Rose chia sẻ.

Giáo sư Joan Rose nhận định, Walkerton là một trong những sự cố ô nhiễm môi trường tồi tệ nhất Canada. Nhưng có hàng trăm vụ việc tương tự xảy ra mỗi năm trên thế giới dù phần lớn không nghiêm trọng bằng.

Hầu hết đều xuất phát từ việc nguồn nước uống bị nhiễm chất thải. “Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 12.000 – 18.000 trường hợp mắc bệnh do nguồn nước. Tại các nước đang phát triển, cứ mỗi 3 người nhập viện lại có một trường hợp là do nước ô nhiễm. Chúng tôi không thể biết chính xác thực trạng tồi tệ như thế nào nhưng trên thế giới có tới 1,5 tỷ người không được tiếp cận nguồn nước sạch”, bà cho biết.

Tuần vừa rồi, Rose nhận được giải thưởng uy tín nhất thế giới về đóng góp phát triển nguồn nước sạch tại hội nghị ở Stockholm. Nhưng đến chính bà cũng không chắc chắn về tương lai của việc đảm bảo vệ sinh nước uống trong cộng đồng dân sinh.

“Chúng tôi bắt đầu đạt được những thành công nhất định về việc giảm tỷ lệ tử vong do bệnh gây ra qua đường dẫn nước, nhưng lại xuất hiện vấn đề lớn là tỷ lệ mắc bệnh. Mọi người đang trở nên yếu hơn. Chúng ta đang trải qua thời kỳ ô nhiễm tồi tệ nhất chưa từng có trong lịch sử”.

Số liệu thống kê phơi bày bức tranh ảm đạm. Tuần vừa rồi, bản tin của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc cho biết hàng trăm triệu người dân trên toàn thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ xấu về sức khỏe như dịch tả, thương hàn gây ra bởi các mầm bệnh trong nước. Ô nhiễm nguồn nước tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ đặc biệt đáng báo động với hơn một nửa số sông ngòi chứa mầm gây bệnh.

“Phần lớn trong số 7 tỷ người trên Trái đất phải sống chung với nguồn nước bị ô nhiễm. Chất lượng nước tại các ao hồ, sông suối và bờ biển đang xuống cấp tới mức đáng báo động. Tình trạng bắt đầu tồi tệ từ những năm 1950 khi gia tăng nguồn thải từ con người và gia súc, mức tiêu thụ nước, thuốc trừ sâu và phân bón”, bà Joan Rose cho biết.

“Chúng tôi đang cố thay đổi ngay tại chính vùng đất của mình. Nhưng thời khí hậu lại chuyển biến xấu theo từng ngày. Chúng ta biết rằng, cường độ mưa bão và hạn hán thay đổi nhiều. 50% trường hợp bị bệnh từ nguồn nước tại Mỹ mỗi năm liên quan tới hiện tượng mưa cực đoan”.

Mưa lớn và lũ lụt là tác nhân gây ra các bệnh như trùng xoắn móc câu, viêm gan, virus norovirus ảnh hưởng tiêu hóa và nhiễm trùng kí sinh cryptosporidium. “Có mối liên quan trực tiếp giữa việc nguồn nước bị ô nhiễm và dịch bệnh lây truyền. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm hay lũ lụt, tất cả các yếu tố cũng ảnh hưởng gây ra mầm bệnh. Nhiều ngước đang phát triển lại gặp khó khăn do thiếu cơ sở hạ tầng xử lý nước thải đạt chuẩn”, Rose chia sẻ thêm.

Trong khi đó, nước thải chứa hơn 100 loại virus khác nhau, trong đó nổi bật là Cyclovirus ảnh hưởng tới thần kinh của trẻ. Tốc độ lây nhiễm rất nhanh trên diện rộng. Ngay cả ếch nhái hay sao biển cũng chết dần chết mòn.

Rose cho rằng, xã hội cần đầu tư thích đáng vào cơ sở hạ tầng nước sinh hoạt. Đó là điều kiện tiên quyết giúp giảm áp lực tại các bệnh viện, tăng chất lượng đời sống người dân và tránh cho thế giới đối mặt với một thảm họa về dịch bệnh trong tương lai.

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Mô hình kiểm định chất lượng không khí của WHO cho thấy 92% dân số thế giới đang sống ở những nơi chứa hạt vật chất có đường kính dưới 2,5 micromet (PM2.5) vượt quá giới hạn cho phép. Khuyến cáo của WHO về khối lượng hạt vật chất PM2.5 là 10mg/m3 không khí.

Kết quả này dựa trên dữ liệu vệ tinh, mô hình vận tải hàng không và màn hình trạm mặt đất, tại hơn 3.000 địa điểm cả nông thôn và thành thị. Theo thống kê, khoảng 3 triệu người chết mỗi năm có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí ngoài trời. Năm 2012 ước tính có khoảng 6,5 triệu ca tử vong (chiếm 11,6% trường hợp tử vong trên toàn cầu) có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời.

Tiến sĩ Flavia Bustreo, Trợ lý Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết: “Ô nhiễm không khí tiếp tục đe dọa sức khỏe của bộ phận dễ bị tổn thương, nhất là phụ nữ, trẻ em và người lớn tuổi”. Gần 90% ca tử vong liên quan tới ô nhiễm không khí xảy ra ở khu vực có thu nhập thấp và thu nhập trung bình.

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Mô hình kiểm định chất lượng không khí của WHO cho thấy 92% dân số thế giới đang sống ở những nơi chứa hạt vật chất có đường kính dưới 2,5 micromet (PM2.5) vượt quá giới hạn cho phép. Khuyến cáo của WHO về khối lượng hạt vật chất PM2.5 là 10mg/m3 không khí.

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí bao gồm khí thải của các phương tiện giao thông, sản phẩm của nhiên liệu làm chất đốt ở các gia đình, khí thải từ nhà máy công nghiệp,…Tuy nhiên, không phải tất cả ô nhiễm không khí có nguồn gốc từ hoạt động của con người mà những cơn bão bụi (ở khu vực gần sa mạc) cũng làm ảnh hưởng tới chất lượng không khí.

Tiến sĩ Mari Neira, Giám đốc WHO lên tiếng: “Cần phải nhanh chóng giải quyết các vấn đề về ô nhiễm không khí trước khi quá muộn”. Biện pháp được đưa ra là phát triển giao thông bền vững ở các thành phố, quản lý chất thải rắn, tích cực sử dụng nguồn năng lượng sạch từ thiên nhiên và đặc biệt phải giảm thiểu khí thải công nghiệp.

WB cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải toàn cầu

WB cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải toàn cầu

Ngày 6/6, Ngân hàng Thế giới (WB) đã cảnh báo về một cuộc khủng hoảng rác thải đang ngày càng nghiêm trọng và tạo gánh nặng khổng lồ về tài chính cũng như môi trường cho chính phủ các nước.

WB cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải toàn cầu

WB cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải toàn cầu

Trong báo cáo “Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn”, WB nhận định khối lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi.
09

Các chuyên gia WB ước tính đến năm 2025, tổng khối lượng rác cư dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm – tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểm hiện tại.

Theo WB, những số liệu này cần được nhìn nhận như hồi chuông cảnh tỉnh về một cuộc khủng hoảng rác thải trong tương lai, trong bối cảnh chất lượng cuộc sống đô thị đang ngày một được cải thiện và tình trạng bùng nổ dân số gia tăng.

Các chuyên gia của WB kêu gọi các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đưa ra các kế hoạch xử lý và tái chế rác thải nhằm hạn chế các khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời tăng cường xử lý chất thải rắn, đặc biệt là ở các thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh và các quốc gia thu nhập thấp.

Theo thống kê của WB, Trung Quốc – quốc gia đã vượt Mỹ trở thành nước thải nhiều rác nhất thế giới năm 2004, hiện chiếm 70% số lượng rác thải của toàn khu vực Đông Á – Thái Bình Dương.

Nền kinh tế thứ hai thế giới và các khu vực khác ở Đông Á cùng nhiều khu vực ở Đông Âu và Trung Đông có tốc độ “sản xuất” chất thải rắn đô thị tăng nhanh nhất thế giới.

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Để thành công trong việc tái chế phế liệu, bảo vệ môi trường, chúng ta cần nhiều yếu tố: kinh tế, xã hội, công nghệ… Thời gian để làm được đều này có thể kéo dài nhiều thế hệ. Vì vậy, mỗi người dân chúng ta nên hành động ngay từ bây giờ, chung tay góp sức xây dựng một môi trường sống xanh, sạch, đẹp cho hôm nay và mai sau.

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Thời gian qua, đã xuất hiện những vấn đề môi trường như bèo tây là nguyên nhân chính gây ách tắc dòng chảy của một số con sông Nam bộ hoặc phế liệu hữu cơ, chất thải phế liệu, nước thải thủy sản gây mùi hôi, ô nhiễm môi trường không khí… Nguyên nhân do công tác quản lý loại chất thải phế liệu, nước thải phế liệu này vẫn gặp bất cập như thiếu người có năng lực quản lý. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh sản xuất vẫn chưa đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, nước thải hoặc đã có hệ thống xử lý nhưng lại hoạt động không hiệu quả. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của vấn đề là chúng ta vẫn chưa hiểu rõ được những lợi ích mà các loại phế liệu này có thể mang lại. Phế liệu sẽ vẫn là phế liệu nếu chúng ta nhìn nhận chúng như những thứ không có giá trị, phải loại bỏ.

Hiện, lượng phế liệu thải sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam khoảng 17 triệu tấn một năm. Trong đó, vùng đô thị phát sinh đến 6,5 triệu tấn một năm. Thành phần chính của phế liệu thải sinh hoạt chủ yếu chất hữu cơ, chiếm 50-70%. Việc quản lý chất phế liệu thải rắn tại các địa phương đại đa số theo hình thức vận chuyển – thu gom – xử lý phế liệu bằng chôn lấp. Việc chôn lấp như vậy sẽ gây rất nhiều lãng phí như: tốn diện tích đất lớn từ vài chục đến vài trăm ha cho việc xây dựng bãi chôn lấp phế liệu; chi phí xây dựng, vận hành cao. Ngoài ra, các nguồn nguyên liệu có thể tái chế gồm chất hữu cơ làm phân vi sinh; giấy, nhựa, kim loại có khả năng tái chế phế liệu… bị vùi chôn trong cát, hàng trăm nam sau mới có thể phân hủy, gây lãng phí.

Bên cạnh đó, các nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm môi trường, dịch bệnh phát sinh từ các bãi chôn lấp này cũng rất lớn. Trong những năm gần đây, một số địa phương như Hà Nội, TP HCM, Ninh Thuận, Huế… đã đầu tư xây dựng nhà máy tái chế phế liệu chất thải. Tuy nhiên số lượng các nhà máy như vậy không nhiều, trong đó, chỉ một vài nhà máy hoạt động hiệu quả. Nguyên nhân là do phế liệu chưa được phân loại tại nguồn, hoặc thiếu thiết bị chuyên dụng để thu mua phế liệu, vận chuyển chất thải phế liệu sinh hoạt. Phế liệu thải vẫn bị đổ chung vào một nơi, không được phân loại gây khó khăn cho việc xử lý bằng các phương pháp tái chế, composting, đốt phế liệu phát điện, chôn lấp…

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa xuất phát từ ý thức của người dân Việt Nam về việc phân loại rác để tái chế, bảo vệ môi trường chưa cao. Hệ quả tất yếu là vấn đề ô nhiễm do phế liệu thải ngày một trầm trọng. Người dân phải sống chung với ruồi, muỗi. Không khí nặng mùi từ các bãi phế liệu khiến nhiều người mắc các bệnh về đường hô hấp. Thêm vào đó, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng do nước rỉ phế liệu gây ra, khiến con người dễ mắc các căn bệnh nguy hiểm như: ung thư, bệnh ngoài da nếu uống, dùng…

Việc tái chế phế liệu thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế. Chúng làm giảm sự phụ thuộc của con người vào việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt. Với lượng hữu cơ lớn trong phế liệu thải sinh hoạt (50-70%) thì đây sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất phân vi sinh, một loại phân rất tốt cho cây trồng và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó việc tái chế còn giúp chúng ta thu hồi các loại nguyên liệu như: nhựa, giấy, kim loại…, tránh lãng phí tài nguyên, ngăn ngừa được sự ô nhiễm.

Để việc tái chế phế liệu đạt hiệu quả cao thì công tác quản lý phải được thực hiện tốt ngay từ giai đoạn đầu, tại nguồn phát sinh chất thải phế liệu. Dựa vào thành phần, tính chất, phế liệu thải sẽ được phân chia thành nhiều loại khác nhau và đựng trong các bao, thùng rác khác nhau. Theo đó mỗi loại rác hữu cơ lại đựng vào mỗi loại thùng màu sắc khác nhau để giúp cho việc phân loại phế liệu dễ dàng hơn. Song song với việc phân loại phế liệu tại nguồn thì các cơ quan quản lý môi trường cần đầu tư thiết bị thu gom chuyên dụng để vận chuyển từng loại phế liệu cụ thể đến nơi tái chế phế liệu. Các nhà quản lý có thể khuyến khích, hướng dẫn người dân phân loại phế liệu, sử dụng sản phẩm làm từ nguồn nguyên liệu tái chế…

Cuối cùng là xây dựng nhà máy tái chế phế liệu để tiếp nhận, xử lý nguồn phế liệu sau khi đã được phân loại tại nguồn. Tại các nhà máy này, phế liệu có nguồn gốc hữu cơ sẽ được dùng để chế biến phân vi sinh. Phế liệu có nguồn gốc từ giấy, nhựa, kim loại…sẽ được thu hồi, tái chế, tạo nguồn nguyên liệu cho ngành giấy, nhựa… Rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao như cao su, da, vải vụn… sẽ được đốt để thu hồi năng lượng. Như vậy, hầu hết các thành phần trong phế liệu thải đều được tái chế, chỉ còn lại một tỷ lệ rất nhỏ phải đem chôn lấp. Điều này sẽ tiết kiệm chi phí thu mua chì phế liệu xử lý phế liệu rất nhiều so với việc đem chôn lấp hoàn toàn vì tạo được nguồn lợi từ việc bán các sản phẩm tái chế. Hơn nữa, tỷ lệ chôn lấp rất ít nên cũng giảm được chi phí đáng kể cho việc vận hành, kiểm soát bãi chôn lấp.

Để thành công trong việc tái chế phế liệu, bảo vệ môi trường, chúng ta cần nhiều yếu tố: kinh tế, xã hội, công nghệ… Thời gian để làm được đều này có thể kéo dài nhiều thế hệ. Vì vậy, mỗi người dân chúng ta nên hành động ngay từ bây giờ, chung tay góp sức xây dựng một môi trường sống xanh, sạch, đẹp cho hôm nay và mai sau.