Từ khóa: môi trường

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

“Khẩu trang giúp chúng ta giảm tiếp túc với bụi trong không khí ở mức độ nhất định. Nhưng khẩu trang vải thường dùng có hiệu suất bảo vệ kém”, các tác giả nghiên cứu kết luận trong bài báo đăng hôm 18/8 trên tạp chí Khoa học Phơi nhiễm và Dịch tễ Môi trường.

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Theo UPI, khẩu trang là vật dụng phổ biến tại nhiều thành phố ở châu Á, nơi người dân phải đối phó với tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu tại Đại học Massachusetts Amherst, Mỹ, các loại khẩu trang thông dụng nhất có mức độ bảo vệ hạn chế trước bụi có hại.

Kết quả thử nghiệm của nhóm nghiên cứu cho thấy những chiếc khẩu trang vải đắt tiền nhất ngăn chặn được 65% hạt bụi kích thước lớn, nhưng chúng thể không giúp người đeo tránh khỏi hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 2,5 micromet. Còn những chiếc khẩu trang rẻ tiền phổ biến ở Nepal, Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á có tác dụng bảo vệ kém.

“Khẩu trang giúp chúng ta giảm tiếp túc với bụi trong không khí ở mức độ nhất định. Nhưng khẩu trang vải thường dùng có hiệu suất bảo vệ kém”, các tác giả nghiên cứu kết luận trong bài báo đăng hôm 18/8 trên tạp chí Khoa học Phơi nhiễm và Dịch tễ Môi trường.

Richard Peltier, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết khẩu trang mang đến cho con người cảm giác an toàn giả tạo, đem lại cho họ sự tự tin khi đến những nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng.

“Hàng triệu người đeo khẩu trang và họ cảm thấy an toàn hơn. Nhưng khẩu trang không thể bảo vệ họ khỏi khí thải từ chiếc xe tải động cơ diesel ngay bên cạnh”, Peltier nói.

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu, thì dù tác hại từ các hoạt động của loài người đối với hành tinh này vẫn đang tăng lên, nhưng tốc độ tăng trưởng đang dần hạ nhiệt, với tỉ lệ chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế và mức tăng trưởng dân số thế giới.

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Thiên nhiên đã bị con người tàn phá một cách nặng nề – điều này chẳng có gì phải bàn cãi nữa.

Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu, thì dù tác hại từ các hoạt động của loài người đối với hành tinh này vẫn đang tăng lên, nhưng tốc độ tăng trưởng đang dần hạ nhiệt, với tỉ lệ chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế và mức tăng trưởng dân số thế giới.

Điều này đem lại cho chúng ta một tia hy vọng, rằng loài người đang dần quản lý được những gì mình đã lấy đi từ thiên nhiên.

Theo Oscar Venter từ ĐH Northern British Columbia (Canada) – trưởng nhóm nghiên cứu: “Chứng kiến mức ảnh hưởng đến tự nhiên có xu hướng chậm hơn sự phát triển của kinh tế và dân số thế giới thực sự rất đáng khích lệ. Điều này cho thấy chúng ta đang sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả hơn”.

Nhóm nghiên cứu của Venter kết hợp cùng 8 trường ĐH khác trên thế giới đã sử dụng dữ liệu từ vệ tinh và khảo sát thực tiễn về tác động của con người đến môi trường trong giai đoạn 1993 – 2009.

Trong giai đoạn này, dân số thế giới tăng 23%, trong khi kinh tế tăng trưởng tới 153%. Ngược lại, lượng khí thải từ hoạt động của con người chỉ tăng 9%.

Tất nhiên, 9% là con số không hề nhỏ, nhưng ít nhất nó vẫn nhỏ hơn so với độ tăng trưởng dân số và kinh tế.

Các chuyên gia tin rằng kết quả này xuất phát từ lý thuyết Đường môi trường Kuznets – cho rằng tác động đến môi trường là khủng khiếp nhất khi nền công nghiệp còn non trẻ, nhưng sẽ hạ nhiệt dần khi kinh tế phát triển thêm.

Tuy vậy, dù mức độ ảnh hưởng đến tự nhiên có tăng chậm, bức tranh tổng thể về những gì loài người đã làm nhìn vẫn rất… đau lòng.

Theo James Watson thuộc ĐH Queensland (Úc): “Các số liệu cho thấy 3/4 hành tinh của chúng ta đã bị thay đổi, và 97% loài có số lượng đông nhất cũng vậy. Điều này giống như một cuộc khủng hoảng về đa dạng sinh học vậy”.

Cụ thể hơn, vào năm 1993 khoảng 27% đất đai trên thế giới chưa có dấu vết của loài người. Tuy nhiên chỉ sau 16 năm, 23 triệu km2 trong số này đã bị xâm chiếm.

Watson cho biết: “Con người là những sinh vật tham lam nhất trên hành tinh này. Sử dụng đất, săn bắn cùng các hoạt động khác đã giúp chúng ta xâm chiếm tới 3/4 mặt đất”.

Nhưng dù sao, chúng ta cũng nên ghi nhận cố gắng lần này của loài người về tính hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Tính đến năm 2015, 52 quốc gia trên thế giới đã sử dụng công nghệ gây mưa nhân tạo.

Mưa nhân tạo được hình thành bằng cách phun một lượng nhỏ hóa chất (iôt bạc hoặc cacbon dioxit) để kích thích các khối không khí bốc lên, gây ra quá trình ngưng tụ hơi nước. Sau đó, người ta dùng máy bay hay tên lửa… tác động vào khối ngưng tụ này gây mất cân bằng và tạo ra các hạt nước.

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Mỹ
Trận mưa tuyết gần Schenectady, ngoại ô thành phố New York vào năm 1946 là sự kiện mở đầu cho công nghệ tạo mưa nhân tạo trên thế giới.

Theo trang Artificialclouds, các bang khô hạn ở Mỹ, điển hình là California, đã tiến hành gây mưa nhân tạo với iot bạc vào những năm 1960. Khi tình trạng khan hiếm nước ngày càng trầm trọng, các bang khác như Colorado, Georgia, Hawaii… cũng áp dụng theo, trong khi các bang như New York hay Washington vẫn còn có những tranh chấp pháp lý liên quan đến công nghệ này.

Ở Mỹ, chính quyền địa phương thường là đơn vị thuê các công ty điều khiển thời tiết gây mưa nhân tạo với mục đích gia tăng lượng mưa và nguồn cung cấp nước. Những dự án tăng cường lượng mưa được người tiêu dùng thanh toán thông qua một khoản phụ phí trong hóa đơn thanh toán tiền nước. Họ coi đây là một trong những cách thức cung cấp nước ít tốn kém.

Nga
Năm 2015, Nga đã chi hơn 6,6 triệu USD đảm bảo tạnh ráo trong dịp lễ kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến II, theo Moscow Times.

Trước khi cuộc diễu hành tại Quảng trường Đỏ diễn ra, một phi đội bay của không quân Nga đã xuất kích từ căn cứ phía Bắc Moscow từ 6h sáng để phun hỗn hợp hóa chất vào các đám mây ở độ cao 8.000m, gây mưa trước đó ở các khu vực lân cận, tránh xảy ra mưa ở trung tâm thủ đô của Nga.

Đại diện trung tâm kí tượng Nga cho biết kỹ thuật gây mưa theo cách này không ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.

Trước đó một năm, chính quyền Moscow đã chi gần 4 triệu USD cho việc “đảm bảo thời tiết tốt” cho thành phố trong những ngày nghỉ lễ của tháng 5.

Nhật Bản
Hiện tượng khan hiếm mưa trong nửa cuối năm 2013 đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân toàn khu vực Kanto, phía đông đảo Honshu, bao gồm 6 tỉnh của Nhật Bản và thủ đô Tokyo.

Tháng 8/2013, chính quyền thành phố Tokyo trên cơ sở thử nghiệm, đã sản xuất mưa nhân tạo để đối phó với mực nước thấp hơn mức trung bình trong hồ chứa của sông Tama, Japan Times cho hay.

Máy phát điện trên mặt đất đã được sử dụng ở khu vực Okutama, phía tây Tokyo, và Koshu, tỉnh Yamanashi, để đưa iot bạc trộn với acetone vào không khí để tạo hơi ẩm. Khi khối hơi này đạt đến độ cao 4.000 đến 5.000 mét, hỗn hợp ban đầu đóng băng và ngưng tụ trong các đám mây, tạo ra mưa.

Cuối cùng, mưa đã xuất hiện tại thượng nguồn đập Ogouchi trên sông Tamagawa với lượng mưa ở mức 10mm.

Trung Quốc
Quốc gia đông dân nhất thế giới tạo ra 55 tỷ tấn mưa nhân tạo mỗi năm, theo thống kê năm 2013 và trở thành đất nước chi tiêu nhiều nhất cho công nghệ này. Mục đích tạo mưa nhân tạo ở Trung Quốc là chống hạn hán, hạn chế mưa đá và ô nhiễm không khí.

Công nghệ gây mưa nhân tạo được sử dụng từ năm 1958 và đã trở thành một trong những biện pháp quan trọng trong việc tăng cường giám sát và ứng phó với thiên tai của Trung Quốc.

Đặc biệt, vào dịp Olympic Bắc Kinh 2008, hơn 1.000 tên lửa iot bạc đã được bắn lên vào bầu trời từ 21 địa điểm khác nhau ở thủ đô trong tổng cộng hơn 7 giờ đồng hồ.

Nỗ lực xua mây, tan mưa trước thềm lễ khai mạc giúp “gột rửa thành phố” và giữ cho Bắc Kinh khô ráo sau đó, trong khi các khu vực xung quanh trung tâm thủ đô và ngoại thành có mưa nhỏ.

Malaysia
Tháng 9/2015, Malaysia đã pha chế hỗn hợp để phun chất gây mưa nhân tạo nhằm làm giảm tình trạng ô nhiễm không khí do đốt rừng, Borneo Post đưa tin.

Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khí quyển và tạo mây thuộc Cục khí tượng Malaysia cho biết cơ quan này phối hợp cùng Không quân Hoàng gia Malaysia làm mưa nhân tạo tại hai khu vực Klang Valley và Kuching.

Các chuyên viên Malaysia pha hỗn hợp muối, chủ yếu là NaCl, để nạp vào bình phun rồi chuyển lên máy bay của quân đội Malaysia để sẵn sàng phun lên các đám mây.

Sau khi máy bay đạt độ cao từ 1.200 m đến 2.100 m tùy khu vực và điều kiện thời tiết, binh sĩ không quân Malaysia phun dung dịch vào các vùng mây. Việc phun muối vào mây nhằm tăng sự ngưng tụ của các hạt nước, từ đó tăng khả năng tạo mưa.

Malaysia đã áp dụng tạo mưa nhân tạo từ năm 1979 để dập các đám cháy rừng lớn hoặc làm giảm ô nhiễm không khí. Đại diện Cục Khí tượng Malaysia cho biết, mỗi chuyến bay làm mưa nhân tạo có thể tốn khoảng 7.500 USD.

Thái Lan
Đầu năm nay, trong bối cảnh hứng chịu đợt hạn hán lớn nhất trong nhiều thập kỷ, Thái Lan đã quyết định cử lực lượng tạo mưa Hoàng gia tác động vào các đám mây nhằm gây mưa cho cả nước.

Global Express News dẫn lời nhà khoa học Thái Wiraphon Sudchada cho biết quá trình tạo mưa bắt đầu bằng việc phun muối bột vào các đám mây. Sau đó họ trộn và phun hỗn hợp calcium chloride và calcium oxide vào những đám mây đó để làm tăng kích thước. Các chuyên gia cũng phun nước đá bên dưới các đám mây để mưa nhanh hơn.

Đây không phải lần đầu tiên Thái Lan áp dụng công nghệ làm mưa nhân tạo. Nhà vua Thái Lan đã cho điều hành các dự án làm mưa nhân tạo từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước.

Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE)
Là một trong những khu vực khô cằn nhất trên thế giới, từ lâu, các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất đã chú trọng đến các biện pháp làm tăng lượng mưa hàng năm, trong đó có ứng dụng mưa nhân tạo.

Các công nghệ từng được UAE áp dụng để tạo mưa có thể kể đến như: tạo dòng ion, gây giống đám mây, dự án xây dựng núi nhân tạo. Trong đó dự án gây giống đám mây nhận được sự hợp tác của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA).

Qua những công nghệ này, mưa nhân tạo có thể xuất hiện do dòng điện đưa ion ẩm lên tầng trên tạo thành những vùng mây tích ẩm hay pháo hóa chất được bắn vào mây trong thời điểm thích hợp qua sự theo dõi của radar. Riêng núi nhân tạo có thể giúp đẩy không khí lên cao, tạo ra những đám mây sinh mưa…

Theo Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia của UAE, khoảng 558.000 USD được đầu tư nhằm tạo ra nguồn mưa nhân tạo trên toàn lãnh thổ trong năm ngoái.

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới “kêu trời”

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới "kêu trời"

Tháng 5/2000, phân nửa trong số 5.000 người dân sinh sống tại Walkerton, Canada ngã bệnh với 5 trường hợp tử vong khi phân bò lẫn vào nguồn nước giếng. Tình trạng ô nhiễm tại thị trấn bị giấu nhẹm, bỏ mặc người dân đối mặt với nhiều mối nguy hiểm hủy hoại thân thể.

Nhà vi sinh vật học Joan Rose, người từng giành giải thưởng uy tín thế giới về lĩnh vực nước sạch, hiện đang chìm trong cảm xúc lẫn lộn giữa sự thất vọng và lạc quan về tiến trình xử lý nguồn nước phục vụ dân sinh.

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới "kêu trời"

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới “kêu trời”

Tháng 5/2000, phân nửa trong số 5.000 người dân sinh sống tại Walkerton, Canada ngã bệnh với 5 trường hợp tử vong khi phân bò lẫn vào nguồn nước giếng. Tình trạng ô nhiễm tại thị trấn bị giấu nhẹm, bỏ mặc người dân đối mặt với nhiều mối nguy hiểm hủy hoại thân thể.

Nhà sinh vật học Joan Rose đến từ Đại học Michigan, vốn rất tỏ tường với những đợt bùng phát ô nhiễm nước nghiêm trọng trên thế giới cũng phải rùng mình trước thực trạng tồi tệ ở Walkerton.

“Đó là cú sốc lớn nhất đối với tôi. Walkerton là vùng nông nghiệp nhỏ bé. Người dân nơi đây rất dễ mến. Nhưng họ phải hứng chịu 2 mầm bệnh từ nguồn cấp nước. Họ không biết con cái mình đang yếu dần đi, có nguy cơ bị suy thận, thậm chí phải lọc máu suốt phần đời còn lại. Tôi đã nhìn thấy cảnh ô nhiễm hủy hoại người dân, thấy sự đau đớn hiện hữu trong đôi mắt của họ”, Joan Rose chia sẻ.

Giáo sư Joan Rose nhận định, Walkerton là một trong những sự cố ô nhiễm môi trường tồi tệ nhất Canada. Nhưng có hàng trăm vụ việc tương tự xảy ra mỗi năm trên thế giới dù phần lớn không nghiêm trọng bằng.

Hầu hết đều xuất phát từ việc nguồn nước uống bị nhiễm chất thải. “Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 12.000 – 18.000 trường hợp mắc bệnh do nguồn nước. Tại các nước đang phát triển, cứ mỗi 3 người nhập viện lại có một trường hợp là do nước ô nhiễm. Chúng tôi không thể biết chính xác thực trạng tồi tệ như thế nào nhưng trên thế giới có tới 1,5 tỷ người không được tiếp cận nguồn nước sạch”, bà cho biết.

Tuần vừa rồi, Rose nhận được giải thưởng uy tín nhất thế giới về đóng góp phát triển nguồn nước sạch tại hội nghị ở Stockholm. Nhưng đến chính bà cũng không chắc chắn về tương lai của việc đảm bảo vệ sinh nước uống trong cộng đồng dân sinh.

“Chúng tôi bắt đầu đạt được những thành công nhất định về việc giảm tỷ lệ tử vong do bệnh gây ra qua đường dẫn nước, nhưng lại xuất hiện vấn đề lớn là tỷ lệ mắc bệnh. Mọi người đang trở nên yếu hơn. Chúng ta đang trải qua thời kỳ ô nhiễm tồi tệ nhất chưa từng có trong lịch sử”.

Số liệu thống kê phơi bày bức tranh ảm đạm. Tuần vừa rồi, bản tin của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc cho biết hàng trăm triệu người dân trên toàn thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ xấu về sức khỏe như dịch tả, thương hàn gây ra bởi các mầm bệnh trong nước. Ô nhiễm nguồn nước tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ đặc biệt đáng báo động với hơn một nửa số sông ngòi chứa mầm gây bệnh.

“Phần lớn trong số 7 tỷ người trên Trái đất phải sống chung với nguồn nước bị ô nhiễm. Chất lượng nước tại các ao hồ, sông suối và bờ biển đang xuống cấp tới mức đáng báo động. Tình trạng bắt đầu tồi tệ từ những năm 1950 khi gia tăng nguồn thải từ con người và gia súc, mức tiêu thụ nước, thuốc trừ sâu và phân bón”, bà Joan Rose cho biết.

“Chúng tôi đang cố thay đổi ngay tại chính vùng đất của mình. Nhưng thời khí hậu lại chuyển biến xấu theo từng ngày. Chúng ta biết rằng, cường độ mưa bão và hạn hán thay đổi nhiều. 50% trường hợp bị bệnh từ nguồn nước tại Mỹ mỗi năm liên quan tới hiện tượng mưa cực đoan”.

Mưa lớn và lũ lụt là tác nhân gây ra các bệnh như trùng xoắn móc câu, viêm gan, virus norovirus ảnh hưởng tiêu hóa và nhiễm trùng kí sinh cryptosporidium. “Có mối liên quan trực tiếp giữa việc nguồn nước bị ô nhiễm và dịch bệnh lây truyền. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm hay lũ lụt, tất cả các yếu tố cũng ảnh hưởng gây ra mầm bệnh. Nhiều ngước đang phát triển lại gặp khó khăn do thiếu cơ sở hạ tầng xử lý nước thải đạt chuẩn”, Rose chia sẻ thêm.

Trong khi đó, nước thải chứa hơn 100 loại virus khác nhau, trong đó nổi bật là Cyclovirus ảnh hưởng tới thần kinh của trẻ. Tốc độ lây nhiễm rất nhanh trên diện rộng. Ngay cả ếch nhái hay sao biển cũng chết dần chết mòn.

Rose cho rằng, xã hội cần đầu tư thích đáng vào cơ sở hạ tầng nước sinh hoạt. Đó là điều kiện tiên quyết giúp giảm áp lực tại các bệnh viện, tăng chất lượng đời sống người dân và tránh cho thế giới đối mặt với một thảm họa về dịch bệnh trong tương lai.

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Mô hình kiểm định chất lượng không khí của WHO cho thấy 92% dân số thế giới đang sống ở những nơi chứa hạt vật chất có đường kính dưới 2,5 micromet (PM2.5) vượt quá giới hạn cho phép. Khuyến cáo của WHO về khối lượng hạt vật chất PM2.5 là 10mg/m3 không khí.

Kết quả này dựa trên dữ liệu vệ tinh, mô hình vận tải hàng không và màn hình trạm mặt đất, tại hơn 3.000 địa điểm cả nông thôn và thành thị. Theo thống kê, khoảng 3 triệu người chết mỗi năm có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí ngoài trời. Năm 2012 ước tính có khoảng 6,5 triệu ca tử vong (chiếm 11,6% trường hợp tử vong trên toàn cầu) có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời.

Tiến sĩ Flavia Bustreo, Trợ lý Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết: “Ô nhiễm không khí tiếp tục đe dọa sức khỏe của bộ phận dễ bị tổn thương, nhất là phụ nữ, trẻ em và người lớn tuổi”. Gần 90% ca tử vong liên quan tới ô nhiễm không khí xảy ra ở khu vực có thu nhập thấp và thu nhập trung bình.

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Mô hình kiểm định chất lượng không khí của WHO cho thấy 92% dân số thế giới đang sống ở những nơi chứa hạt vật chất có đường kính dưới 2,5 micromet (PM2.5) vượt quá giới hạn cho phép. Khuyến cáo của WHO về khối lượng hạt vật chất PM2.5 là 10mg/m3 không khí.

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí bao gồm khí thải của các phương tiện giao thông, sản phẩm của nhiên liệu làm chất đốt ở các gia đình, khí thải từ nhà máy công nghiệp,…Tuy nhiên, không phải tất cả ô nhiễm không khí có nguồn gốc từ hoạt động của con người mà những cơn bão bụi (ở khu vực gần sa mạc) cũng làm ảnh hưởng tới chất lượng không khí.

Tiến sĩ Mari Neira, Giám đốc WHO lên tiếng: “Cần phải nhanh chóng giải quyết các vấn đề về ô nhiễm không khí trước khi quá muộn”. Biện pháp được đưa ra là phát triển giao thông bền vững ở các thành phố, quản lý chất thải rắn, tích cực sử dụng nguồn năng lượng sạch từ thiên nhiên và đặc biệt phải giảm thiểu khí thải công nghiệp.

Máy phân loại rác tự động thân thiện môi trường

Máy phân loại rác tự động thân thiện môi trường

Gần 2 năm “sống chung với rác”, kỹ sư Lại Minh Chức Trung tâm Nghiên cứu và phát triển công nghệ môi trường xây dựng Hà Nội đã chế tạo thành công thiết bị phân loại rác thải rắn tự động điều khiển từ xa.

Loại máy này vượt trội hơn so với nhiều loại máy phân loại xử lí rác đắt tiền đang được nhiều nước sử dụng hiện nay, giải phóng và giảm thiểu sức lao động cho con người trong môi trường độc hại.

Máy phân loại rác tự động thân thiện môi trường

Máy phân loại rác tự động thân thiện môi trường

Bỏ việc để thỏa chí sáng tạo

Tốt nghiệp trường Đại học kiến trúc Hà Nội – Khoa Xây dựng dân dụng công nghiệp, Năm 2008, kỹ sư Lại Minh Chức quyết định xin nghỉ việc khi đang là nghiên cứu viên khoa học tại Viện Kiến trúc nhiệt đới – Đại học kiến trúc Hà Nội để đầu tư thời gian cho chiếc máy phân loại xử lí rác thải thông minh mới hình thành ý tưởng trong đầu. Trong suốt 9 tháng trời, anh chỉ đi ra ngoài 5 ngày, mỗi ngày ngủ nhiều nhất là 4 giờ, thời gian còn lại anh dành cho các bản vẽ, các chất liệu sắt thép, con số tính toán, vòng bi, tĩnh điện.

Máy phân loại xử lý rác do kỹ sư Lại Minh Chức chế tạo có công suất 150 – 200 tấn/ngày. Máy cho phép xử lí rác tự động, loại bỏ rác thải cá biệt bằng thiết bị điều khiển từ xa; tự động phân phối lượng rác vào máy cắt phù hợp với từng loại rác và công suất máy; có thiết bị băm cắt thông minh cho phép tự cắt xé bao, gói và tự lựa chọn loại rác cần cắt nhỏ theo yêu cầu của công nghệ phân loại và tái chế.

Ngoài ra, máy còn có thể cắt nhỏ các loại rác hữu cơ có nguồn gốc động thực vật theo yêu cầu của công nghệ ủ sinh học cho khả năng sản xuất phân bón vi sinh phục vụ cho nông nghiệp; nghiền nhỏ rác thải vô cơ (gạch đá, thủy tinh) phục vụ cho công nghệ đóng rắn hoặc san lấp, bỏ qua kim loại và các loại phế thải dẻo để phù hợp với công nghệ tách lọc.

Đặc biệt, quy trình phân loại xử lý đều được thực hiện trong không gian khép kín nên kiểm soát được sự phân tán khí có mùi độc hại, vi khuẩn gây bệnh ra môi trường, loại bỏ nguy cơ nhiễm bệnh, hoặc gây cháy nổ. Những thiết bị này nhỏ gọn và hiệu quả được tích hợp trong một mô đun có diện tích 20m2. Công nghệ cho phép giảm từ 50 – 70% thể tích chôn lấp so với các công nghệ hiện có, giảm thời gian phân hủy nhờ đó tăng sản lượng và sớm thu hồi được khí gas, thu hồi mùn hữu cơ sinh học nên giảm thời gian quay vòng hố chôn lấp hàng chục năm so với công nghệ hiện nay của các công ty môi trường.

Hiệu quả cao

Hiệu quả và những ưu điểm vượt trội mà hiện nay nhiều máy xử lí rác thải trên thị trường trong và ngoài nước chưa đạt được là thay thế 100% lao động sử dụng trong công đoạn phân loại rác bằng tay. Năng lượng điện sử dụng chỉ bằng 30% so với nhà máy Seraphin ở Sơn Tây và công nghệ của Bỉ hiện tại ở Hà Nam.

Sản phẩm trên nằm trong đề tài “tổ hợp thiết bị phân loại rác thải bằng công nghệ tự động điều khiển từ xa” của kỹ sư Lại Minh Chức đã được Hội đồng Sở KH-CN Hà Nam nghiệm thu đánh giá đạt loại xuất sắc. Nếu kết quả nghiên cứu trên được triển khai ứng dụng nhân rộng để thực hiện chương trình xử lý triệt để rác thải thì với hơn 20.000 tấn rác thải mỗi ngày ở Việt Nam hiện nay không chỉ giải phóng được hàng chục ngàn lao động ra khỏi môi trường lao động nguy hiểm độc hại, còn giúp giảm nhiều lần chi phí phân loại, chi phí đầu tư trang thiết bị nhập ngoại và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, tái chế nguồn tài nguyên có giá trị của Việt Nam, nhất là khi ở Việt Nam chưa có thói quen phân loại rác tại nguồn.

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Để thành công trong việc tái chế phế liệu, bảo vệ môi trường, chúng ta cần nhiều yếu tố: kinh tế, xã hội, công nghệ… Thời gian để làm được đều này có thể kéo dài nhiều thế hệ. Vì vậy, mỗi người dân chúng ta nên hành động ngay từ bây giờ, chung tay góp sức xây dựng một môi trường sống xanh, sạch, đẹp cho hôm nay và mai sau.

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Lợi ích to lớn của công việc thu mua phế liệu

Thời gian qua, đã xuất hiện những vấn đề môi trường như bèo tây là nguyên nhân chính gây ách tắc dòng chảy của một số con sông Nam bộ hoặc phế liệu hữu cơ, chất thải phế liệu, nước thải thủy sản gây mùi hôi, ô nhiễm môi trường không khí… Nguyên nhân do công tác quản lý loại chất thải phế liệu, nước thải phế liệu này vẫn gặp bất cập như thiếu người có năng lực quản lý. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh sản xuất vẫn chưa đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, nước thải hoặc đã có hệ thống xử lý nhưng lại hoạt động không hiệu quả. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của vấn đề là chúng ta vẫn chưa hiểu rõ được những lợi ích mà các loại phế liệu này có thể mang lại. Phế liệu sẽ vẫn là phế liệu nếu chúng ta nhìn nhận chúng như những thứ không có giá trị, phải loại bỏ.

Hiện, lượng phế liệu thải sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam khoảng 17 triệu tấn một năm. Trong đó, vùng đô thị phát sinh đến 6,5 triệu tấn một năm. Thành phần chính của phế liệu thải sinh hoạt chủ yếu chất hữu cơ, chiếm 50-70%. Việc quản lý chất phế liệu thải rắn tại các địa phương đại đa số theo hình thức vận chuyển – thu gom – xử lý phế liệu bằng chôn lấp. Việc chôn lấp như vậy sẽ gây rất nhiều lãng phí như: tốn diện tích đất lớn từ vài chục đến vài trăm ha cho việc xây dựng bãi chôn lấp phế liệu; chi phí xây dựng, vận hành cao. Ngoài ra, các nguồn nguyên liệu có thể tái chế gồm chất hữu cơ làm phân vi sinh; giấy, nhựa, kim loại có khả năng tái chế phế liệu… bị vùi chôn trong cát, hàng trăm nam sau mới có thể phân hủy, gây lãng phí.

Bên cạnh đó, các nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm môi trường, dịch bệnh phát sinh từ các bãi chôn lấp này cũng rất lớn. Trong những năm gần đây, một số địa phương như Hà Nội, TP HCM, Ninh Thuận, Huế… đã đầu tư xây dựng nhà máy tái chế phế liệu chất thải. Tuy nhiên số lượng các nhà máy như vậy không nhiều, trong đó, chỉ một vài nhà máy hoạt động hiệu quả. Nguyên nhân là do phế liệu chưa được phân loại tại nguồn, hoặc thiếu thiết bị chuyên dụng để thu mua phế liệu, vận chuyển chất thải phế liệu sinh hoạt. Phế liệu thải vẫn bị đổ chung vào một nơi, không được phân loại gây khó khăn cho việc xử lý bằng các phương pháp tái chế, composting, đốt phế liệu phát điện, chôn lấp…

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa xuất phát từ ý thức của người dân Việt Nam về việc phân loại rác để tái chế, bảo vệ môi trường chưa cao. Hệ quả tất yếu là vấn đề ô nhiễm do phế liệu thải ngày một trầm trọng. Người dân phải sống chung với ruồi, muỗi. Không khí nặng mùi từ các bãi phế liệu khiến nhiều người mắc các bệnh về đường hô hấp. Thêm vào đó, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng do nước rỉ phế liệu gây ra, khiến con người dễ mắc các căn bệnh nguy hiểm như: ung thư, bệnh ngoài da nếu uống, dùng…

Việc tái chế phế liệu thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế. Chúng làm giảm sự phụ thuộc của con người vào việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt. Với lượng hữu cơ lớn trong phế liệu thải sinh hoạt (50-70%) thì đây sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất phân vi sinh, một loại phân rất tốt cho cây trồng và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó việc tái chế còn giúp chúng ta thu hồi các loại nguyên liệu như: nhựa, giấy, kim loại…, tránh lãng phí tài nguyên, ngăn ngừa được sự ô nhiễm.

Để việc tái chế phế liệu đạt hiệu quả cao thì công tác quản lý phải được thực hiện tốt ngay từ giai đoạn đầu, tại nguồn phát sinh chất thải phế liệu. Dựa vào thành phần, tính chất, phế liệu thải sẽ được phân chia thành nhiều loại khác nhau và đựng trong các bao, thùng rác khác nhau. Theo đó mỗi loại rác hữu cơ lại đựng vào mỗi loại thùng màu sắc khác nhau để giúp cho việc phân loại phế liệu dễ dàng hơn. Song song với việc phân loại phế liệu tại nguồn thì các cơ quan quản lý môi trường cần đầu tư thiết bị thu gom chuyên dụng để vận chuyển từng loại phế liệu cụ thể đến nơi tái chế phế liệu. Các nhà quản lý có thể khuyến khích, hướng dẫn người dân phân loại phế liệu, sử dụng sản phẩm làm từ nguồn nguyên liệu tái chế…

Cuối cùng là xây dựng nhà máy tái chế phế liệu để tiếp nhận, xử lý nguồn phế liệu sau khi đã được phân loại tại nguồn. Tại các nhà máy này, phế liệu có nguồn gốc hữu cơ sẽ được dùng để chế biến phân vi sinh. Phế liệu có nguồn gốc từ giấy, nhựa, kim loại…sẽ được thu hồi, tái chế, tạo nguồn nguyên liệu cho ngành giấy, nhựa… Rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao như cao su, da, vải vụn… sẽ được đốt để thu hồi năng lượng. Như vậy, hầu hết các thành phần trong phế liệu thải đều được tái chế, chỉ còn lại một tỷ lệ rất nhỏ phải đem chôn lấp. Điều này sẽ tiết kiệm chi phí thu mua chì phế liệu xử lý phế liệu rất nhiều so với việc đem chôn lấp hoàn toàn vì tạo được nguồn lợi từ việc bán các sản phẩm tái chế. Hơn nữa, tỷ lệ chôn lấp rất ít nên cũng giảm được chi phí đáng kể cho việc vận hành, kiểm soát bãi chôn lấp.

Để thành công trong việc tái chế phế liệu, bảo vệ môi trường, chúng ta cần nhiều yếu tố: kinh tế, xã hội, công nghệ… Thời gian để làm được đều này có thể kéo dài nhiều thế hệ. Vì vậy, mỗi người dân chúng ta nên hành động ngay từ bây giờ, chung tay góp sức xây dựng một môi trường sống xanh, sạch, đẹp cho hôm nay và mai sau.