Môi trường

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Tỷ phú Bill Gates là một trong những nhà đầu tư trong nghiên cứu khí Carbon, nhắm tới một công nghệ công nghiệp có thể biến khí carbon thu giữ được trở thành nhiên liệu. Một công nghệ hứa hẹn, nhưng vẫn chỉ là những bước đầu trên con đường dài tới việc thay thế được tầm quan trọng của cây cối nói riêng và thực vật nói chung.

Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, ta có một đồng minh đắc lực và lâu đời nhất là cây cối. Công việc hàng ngày của chúng là hấp thụ khí carbon dioxide, giảm lượng khí nhà kính có hại tới môi trường. Nhưng với tình trạng chặt phá rừng như hiện nay và lượng khí thải vẫn thải ra đều đặn và ngày càng nhiều hơn, ta đang đòi hỏi những cái cây đó làm việc quá sức.

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Cây nhân tạo hấp thụ khí thải gấp 1000 lần cây tự nhiên

Cây xanh

Theo như ông Christophe Jospe, trưởng ban kế hoạch tại Trung tâm Nghiên cứu Khí thải Carbon Bang Arizona, thì với tình hình hiện tại, cây cối không thể hấp thụ hết lượng carbon dioxide mà con người thải ra, trừ khi tất cả những vùng đất hiện có trên Trái Đất chúng ta có thể biến thành rừng rậm.

Vì thế, các nhà khoa học đang tìm ra một giải pháp mới, một “vị cứu tinh” để cứu rỗi loài người: họ mong muốn tạo ra cây có “siêu sức mạnh”. Đó là cây nhân tạo, một tia sáng mới giúp chúng ta trong cuộc chiến làm sạch môi trường, bởi lẽ ta không thể trông cậy vào việc con người sẽ xả bớt một lượng đáng kể khí carbon vào một trường được. Vì thế, một trong những lựa chọn được đánh giá cao và hữu ích là thu thập những khí thải carbon đó và tìm cách biến chúng thành cái gì có ích hơn, như là nhiên liệu.

Cây nhân tạo

Quay ngược thời gian lại 5 năm về trước, một nhóm các nhà nghiên cứu tại Boston và một số nhà thiết kế để đã vẽ ra ý tưởng tạo nên những “cây nhân tạo” trong thành phố. Ý tưởng của họ là những cái cây có thể lọc được khí carbon dioxide và thậm chí vẫn có thể có được bóng râm chứ không đơn thuần chỉ là những bộ lọc không khí được đặt khắp thành phố. Những cái cây nhân tạo đó sẽ được đặt tại những nơi đất khó trồng cây, những vỉa hè quá ít đất để cây có thể mọc.

Mặc dù nhóm nghiên cứu tại Boston có ý tưởng hay và đã tạo nên được những bản thiết kế đầu tiên, nhưng tìm được nguồn viện trợ lại không phải việc dễ dàng. “Không ai muốn là người đầu tiên bỏ tiền ra cả”, theo lời của Kimberly Poliquin, giám đốc dự án dựng cây nhân tạo. “Các nhà khoa học có thể nói rằng họ làm được điều đó, nhưng những nhà đầu tư luôn thắc mắc rằng liệu ‘điều đó’ có thể áp dụng vào thực tế hay không”.

Việc thu thập và lưu trữ khí carbon chưa phải là điều dễ dàng, chúng luôn yêu cầu lượng chi phí cao và vì thế, chính phủ cũng như các tổ chức môi trường cũng như các tổ chức công nghiệp khác vẫn chưa thể triển khai việc này trên diện rộng. Không sai khi nói rằng công nghệ này đã không còn đắt đỏ như nhiều năm trước, nhưng việc tạo nên cả “một rừng cây nhân tạo” thì vẫn còn là chuyện xa vời, bởi một cây nhân tạo như vậy có giá xấp xỉ 350.000 USD, theo như bà Poliquin nhận định. Mong muốn hiện tại của bà cũng như của đội ngũ nghiên cứu là tạo ra một mẫu thử trong vòng 1 tới 2 năm tới.

Cách thức để thu giữ khí carbon trong không khí cũng không ít. Một trong những cách ấy là lấy trực tiếp từ ống khói của các nhà máy. Một cách khác, cách thức mà các nhà nghiên cứu tại Boston đã nhắm tới, đó là hút và lọc khí carbon từ không khí. Theo như lý thuyết, một kilomet vuông cây nhân tạo có thể loại bỏ được 4 triệu tấn khí carbon một năm. Những con số ấy được Trung tâm Nghiên cứu Khí thải Carbon đưa ra và họ cũng đang phát triển một công nghệ lọc khí như thế.

Bảy dự án lớn về lọc và lưu trữ khí thải carbon tại các nhà máy sẽ được triển khai trong hai năm 2016 và 2017, phần lớn sẽ được thử nghiệm tại Mỹ và Canada. Nhưng cần đẩy nhanh tiến độ và mở rộng phạm vi áp dụng việc thu giữ khí thải để có thể có được những ảnh hưởng rõ rệt lên môi trường và khí hậu. Theo Viện Thu giữ Khí Carbon Toàn cầu thì với 15 dự án quy mô lớn toàn cầu như vậy, thì lượng khí carbon dioxide lọc được khỏi bầu khí quyển hàng năm sẽ là 28 triệu tấn. Và để giữ cho bầu khí quyển trong sạch, ta cần xử lý được 4 tỷ tấn khí carbon vào năm 2040 và phải đạt con số 6 tỷ vào năm 2050.

Trung tâm Nghiên cứu Khí thải Carbon đang phát triển một công nghệ lọc khí có hiệu quả gấp 1.000 lần cây trên mỗi một đơn vị sinh khối (biomass). Vẫn cần thêm thời gian, bởi lẽ khi công nghệ này hoạt động ở những khu vực có khí hậu lạnh hơn bình thường sẽ cần thêm chi phí.

Một khi công nghệ này được hoàn thiện, nhóm nghiên cứu ước đoán rằng chi phí để lọc khí carbon dioxide khỏi bầu không khí là 100 USD/tấn. Họ tập trung vào việc tạo ra một hệ thống lọc khí carbon dioxide hiệu quả và tiết kiệm được chi phí, hơn là cố gắng tạo ra một cây nhân tạo vừa lọc được khí vừa vừa đẹp mắt, dễ nhìn.

Và vì thế, công nghệ này vẫn cần phát triển thêm để có thể có được một chi phí hiệu quả và có khả năng phổ biến được toàn cầu. Từ năm 2007, Viện Thu giữ Khí Carbon Toàn cầu nói rằng việc đầu tư vào thu giữ khí carbon toàn cầu chỉ dưới 20 tỷ USD, chỉ bằng 1/100 số đầu tư vào năng lượng tái tạo.

“Công nghệ cây nhân tạo cần một bàn tay tài hoa như Mike Bloomberg, Bill Gates hay Mar Zuckerberg để đặt những bước đầu thành công trong vấn đề nghiên cứu này, để có thể hạ được giá thành của việc thu giữ khí carbon dioxide xuống”, như ông Jospe chia sẻ. “Cứ đưa tôi 100 triệu USD, tôi sẽ tiến hành đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ này một cách mạnh mẽ và chỉ trong 5 năm sau, bạn sẽ thấy được những sản phẩm thú vị bắt đầu xuất hiện trên thị trường”.

Tỷ phú Bill Gates là một trong những nhà đầu tư trong nghiên cứu khí Carbon, nhắm tới một công nghệ công nghiệp có thể biến khí carbon thu giữ được trở thành nhiên liệu. Một công nghệ hứa hẹn, nhưng vẫn chỉ là những bước đầu trên con đường dài tới việc thay thế được tầm quan trọng của cây cối nói riêng và thực vật nói chung.

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

“Khẩu trang giúp chúng ta giảm tiếp túc với bụi trong không khí ở mức độ nhất định. Nhưng khẩu trang vải thường dùng có hiệu suất bảo vệ kém”, các tác giả nghiên cứu kết luận trong bài báo đăng hôm 18/8 trên tạp chí Khoa học Phơi nhiễm và Dịch tễ Môi trường.

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Môi trường ô nhiễm, dùng khẩu trang khó ngăn bụi

Theo UPI, khẩu trang là vật dụng phổ biến tại nhiều thành phố ở châu Á, nơi người dân phải đối phó với tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu tại Đại học Massachusetts Amherst, Mỹ, các loại khẩu trang thông dụng nhất có mức độ bảo vệ hạn chế trước bụi có hại.

Kết quả thử nghiệm của nhóm nghiên cứu cho thấy những chiếc khẩu trang vải đắt tiền nhất ngăn chặn được 65% hạt bụi kích thước lớn, nhưng chúng thể không giúp người đeo tránh khỏi hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 2,5 micromet. Còn những chiếc khẩu trang rẻ tiền phổ biến ở Nepal, Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á có tác dụng bảo vệ kém.

“Khẩu trang giúp chúng ta giảm tiếp túc với bụi trong không khí ở mức độ nhất định. Nhưng khẩu trang vải thường dùng có hiệu suất bảo vệ kém”, các tác giả nghiên cứu kết luận trong bài báo đăng hôm 18/8 trên tạp chí Khoa học Phơi nhiễm và Dịch tễ Môi trường.

Richard Peltier, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết khẩu trang mang đến cho con người cảm giác an toàn giả tạo, đem lại cho họ sự tự tin khi đến những nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng.

“Hàng triệu người đeo khẩu trang và họ cảm thấy an toàn hơn. Nhưng khẩu trang không thể bảo vệ họ khỏi khí thải từ chiếc xe tải động cơ diesel ngay bên cạnh”, Peltier nói.

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu, thì dù tác hại từ các hoạt động của loài người đối với hành tinh này vẫn đang tăng lên, nhưng tốc độ tăng trưởng đang dần hạ nhiệt, với tỉ lệ chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế và mức tăng trưởng dân số thế giới.

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Con người đang tác động nặng nề tới môi trường

Thiên nhiên đã bị con người tàn phá một cách nặng nề – điều này chẳng có gì phải bàn cãi nữa.

Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu, thì dù tác hại từ các hoạt động của loài người đối với hành tinh này vẫn đang tăng lên, nhưng tốc độ tăng trưởng đang dần hạ nhiệt, với tỉ lệ chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế và mức tăng trưởng dân số thế giới.

Điều này đem lại cho chúng ta một tia hy vọng, rằng loài người đang dần quản lý được những gì mình đã lấy đi từ thiên nhiên.

Theo Oscar Venter từ ĐH Northern British Columbia (Canada) – trưởng nhóm nghiên cứu: “Chứng kiến mức ảnh hưởng đến tự nhiên có xu hướng chậm hơn sự phát triển của kinh tế và dân số thế giới thực sự rất đáng khích lệ. Điều này cho thấy chúng ta đang sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả hơn”.

Nhóm nghiên cứu của Venter kết hợp cùng 8 trường ĐH khác trên thế giới đã sử dụng dữ liệu từ vệ tinh và khảo sát thực tiễn về tác động của con người đến môi trường trong giai đoạn 1993 – 2009.

Trong giai đoạn này, dân số thế giới tăng 23%, trong khi kinh tế tăng trưởng tới 153%. Ngược lại, lượng khí thải từ hoạt động của con người chỉ tăng 9%.

Tất nhiên, 9% là con số không hề nhỏ, nhưng ít nhất nó vẫn nhỏ hơn so với độ tăng trưởng dân số và kinh tế.

Các chuyên gia tin rằng kết quả này xuất phát từ lý thuyết Đường môi trường Kuznets – cho rằng tác động đến môi trường là khủng khiếp nhất khi nền công nghiệp còn non trẻ, nhưng sẽ hạ nhiệt dần khi kinh tế phát triển thêm.

Tuy vậy, dù mức độ ảnh hưởng đến tự nhiên có tăng chậm, bức tranh tổng thể về những gì loài người đã làm nhìn vẫn rất… đau lòng.

Theo James Watson thuộc ĐH Queensland (Úc): “Các số liệu cho thấy 3/4 hành tinh của chúng ta đã bị thay đổi, và 97% loài có số lượng đông nhất cũng vậy. Điều này giống như một cuộc khủng hoảng về đa dạng sinh học vậy”.

Cụ thể hơn, vào năm 1993 khoảng 27% đất đai trên thế giới chưa có dấu vết của loài người. Tuy nhiên chỉ sau 16 năm, 23 triệu km2 trong số này đã bị xâm chiếm.

Watson cho biết: “Con người là những sinh vật tham lam nhất trên hành tinh này. Sử dụng đất, săn bắn cùng các hoạt động khác đã giúp chúng ta xâm chiếm tới 3/4 mặt đất”.

Nhưng dù sao, chúng ta cũng nên ghi nhận cố gắng lần này của loài người về tính hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Chúng ta đã phá hủy Trái đất như thế nào trong 25 năm qua

Chúng ta đã phá hủy Trái đất như thế nào trong 25 năm qua

Sử dụng dữ liệu vào thập niên 1990, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng có khoảng 3,3 triệu km vuông vùng hoang dã bị phá hủy vào năm 1993 bởi các hoạt động khai thác mỏ, khai thác gỗ, xây dựng dự án cơ sở hạ tầng của con người.

Theo một nghiên cứu mới nhất được đăng tải trên Current Biology, trung bình mỗi năm có khoảng 132.000km2 những vùng đất hoang dã bị biến mất, đó là tốc độ suy giảm độ hoang dã của Trái Đất trong 25 năm qua.

Chúng ta đã phá hủy Trái đất như thế nào trong 25 năm qua

Chúng ta đã phá hủy Trái đất như thế nào trong 25 năm qua

Sử dụng dữ liệu vào thập niên 1990, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng có khoảng 3,3 triệu km vuông vùng hoang dã bị phá hủy vào năm 1993 bởi các hoạt động khai thác mỏ, khai thác gỗ, xây dựng dự án cơ sở hạ tầng của con người.

Theo nghiên cứu, vùng hoang dã là vùng có “hệ sinh thái và cảnh quan sinh học vẫn còn nguyên vẹn, và hầu hết đều miễn phí (các vườn quốc gia thì thường tính phí)”. Các hoạt động phá hủy khu vực này chẳng hạn như sự chuyển đổi đất trồng sang đất công nghiệp, tạo ra mật độ các hoạt động công nghiệp cao gây xáo trộn hệ sinh thái.

“Số lượng vùng hoang dã bị biến mất trong hai thập kỷ qua thật đáng kinh ngạc và gây lo ngại”, James Watson, một thành viên của nhóm nghiên cứu, đến từ Đại học Queensland và Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã New York, cho biết.

Các khu vực trải qua sự sụt giảm vùng hoang dã lớn nhất là Amazon (gần 1/3) và Trung Phi (mất 14%). Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, sự đáng báo động hơn là tốc độ phá hủy các vùng hoang dã nhanh hơn tốc độ chúng ta xây nên các khu bảo tồn. Trong cùng một thời gian, khu bảo tồn thiên nhiên mới được tạo ra chỉ 2,5 triệu km2.

“Bạn không thể khôi phục lại khu vực hoang dã tự nhiên một khi chúng đã biến mất, các quá trình sinh học là nền tảng cho hệ sinh thái tự nhiên đã biến mất, và nó sẽ không thể trở lại trạng thái như ban đầu”, nhà nghiên cứu James E. M. Watson từ Đại học Queensland và Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã New York, giải thích.

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Tính đến năm 2015, 52 quốc gia trên thế giới đã sử dụng công nghệ gây mưa nhân tạo.

Mưa nhân tạo được hình thành bằng cách phun một lượng nhỏ hóa chất (iôt bạc hoặc cacbon dioxit) để kích thích các khối không khí bốc lên, gây ra quá trình ngưng tụ hơi nước. Sau đó, người ta dùng máy bay hay tên lửa… tác động vào khối ngưng tụ này gây mất cân bằng và tạo ra các hạt nước.

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Con người có thể điều khiển thời tiết theo ý muốn

Mỹ
Trận mưa tuyết gần Schenectady, ngoại ô thành phố New York vào năm 1946 là sự kiện mở đầu cho công nghệ tạo mưa nhân tạo trên thế giới.

Theo trang Artificialclouds, các bang khô hạn ở Mỹ, điển hình là California, đã tiến hành gây mưa nhân tạo với iot bạc vào những năm 1960. Khi tình trạng khan hiếm nước ngày càng trầm trọng, các bang khác như Colorado, Georgia, Hawaii… cũng áp dụng theo, trong khi các bang như New York hay Washington vẫn còn có những tranh chấp pháp lý liên quan đến công nghệ này.

Ở Mỹ, chính quyền địa phương thường là đơn vị thuê các công ty điều khiển thời tiết gây mưa nhân tạo với mục đích gia tăng lượng mưa và nguồn cung cấp nước. Những dự án tăng cường lượng mưa được người tiêu dùng thanh toán thông qua một khoản phụ phí trong hóa đơn thanh toán tiền nước. Họ coi đây là một trong những cách thức cung cấp nước ít tốn kém.

Nga
Năm 2015, Nga đã chi hơn 6,6 triệu USD đảm bảo tạnh ráo trong dịp lễ kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến II, theo Moscow Times.

Trước khi cuộc diễu hành tại Quảng trường Đỏ diễn ra, một phi đội bay của không quân Nga đã xuất kích từ căn cứ phía Bắc Moscow từ 6h sáng để phun hỗn hợp hóa chất vào các đám mây ở độ cao 8.000m, gây mưa trước đó ở các khu vực lân cận, tránh xảy ra mưa ở trung tâm thủ đô của Nga.

Đại diện trung tâm kí tượng Nga cho biết kỹ thuật gây mưa theo cách này không ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.

Trước đó một năm, chính quyền Moscow đã chi gần 4 triệu USD cho việc “đảm bảo thời tiết tốt” cho thành phố trong những ngày nghỉ lễ của tháng 5.

Nhật Bản
Hiện tượng khan hiếm mưa trong nửa cuối năm 2013 đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân toàn khu vực Kanto, phía đông đảo Honshu, bao gồm 6 tỉnh của Nhật Bản và thủ đô Tokyo.

Tháng 8/2013, chính quyền thành phố Tokyo trên cơ sở thử nghiệm, đã sản xuất mưa nhân tạo để đối phó với mực nước thấp hơn mức trung bình trong hồ chứa của sông Tama, Japan Times cho hay.

Máy phát điện trên mặt đất đã được sử dụng ở khu vực Okutama, phía tây Tokyo, và Koshu, tỉnh Yamanashi, để đưa iot bạc trộn với acetone vào không khí để tạo hơi ẩm. Khi khối hơi này đạt đến độ cao 4.000 đến 5.000 mét, hỗn hợp ban đầu đóng băng và ngưng tụ trong các đám mây, tạo ra mưa.

Cuối cùng, mưa đã xuất hiện tại thượng nguồn đập Ogouchi trên sông Tamagawa với lượng mưa ở mức 10mm.

Trung Quốc
Quốc gia đông dân nhất thế giới tạo ra 55 tỷ tấn mưa nhân tạo mỗi năm, theo thống kê năm 2013 và trở thành đất nước chi tiêu nhiều nhất cho công nghệ này. Mục đích tạo mưa nhân tạo ở Trung Quốc là chống hạn hán, hạn chế mưa đá và ô nhiễm không khí.

Công nghệ gây mưa nhân tạo được sử dụng từ năm 1958 và đã trở thành một trong những biện pháp quan trọng trong việc tăng cường giám sát và ứng phó với thiên tai của Trung Quốc.

Đặc biệt, vào dịp Olympic Bắc Kinh 2008, hơn 1.000 tên lửa iot bạc đã được bắn lên vào bầu trời từ 21 địa điểm khác nhau ở thủ đô trong tổng cộng hơn 7 giờ đồng hồ.

Nỗ lực xua mây, tan mưa trước thềm lễ khai mạc giúp “gột rửa thành phố” và giữ cho Bắc Kinh khô ráo sau đó, trong khi các khu vực xung quanh trung tâm thủ đô và ngoại thành có mưa nhỏ.

Malaysia
Tháng 9/2015, Malaysia đã pha chế hỗn hợp để phun chất gây mưa nhân tạo nhằm làm giảm tình trạng ô nhiễm không khí do đốt rừng, Borneo Post đưa tin.

Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khí quyển và tạo mây thuộc Cục khí tượng Malaysia cho biết cơ quan này phối hợp cùng Không quân Hoàng gia Malaysia làm mưa nhân tạo tại hai khu vực Klang Valley và Kuching.

Các chuyên viên Malaysia pha hỗn hợp muối, chủ yếu là NaCl, để nạp vào bình phun rồi chuyển lên máy bay của quân đội Malaysia để sẵn sàng phun lên các đám mây.

Sau khi máy bay đạt độ cao từ 1.200 m đến 2.100 m tùy khu vực và điều kiện thời tiết, binh sĩ không quân Malaysia phun dung dịch vào các vùng mây. Việc phun muối vào mây nhằm tăng sự ngưng tụ của các hạt nước, từ đó tăng khả năng tạo mưa.

Malaysia đã áp dụng tạo mưa nhân tạo từ năm 1979 để dập các đám cháy rừng lớn hoặc làm giảm ô nhiễm không khí. Đại diện Cục Khí tượng Malaysia cho biết, mỗi chuyến bay làm mưa nhân tạo có thể tốn khoảng 7.500 USD.

Thái Lan
Đầu năm nay, trong bối cảnh hứng chịu đợt hạn hán lớn nhất trong nhiều thập kỷ, Thái Lan đã quyết định cử lực lượng tạo mưa Hoàng gia tác động vào các đám mây nhằm gây mưa cho cả nước.

Global Express News dẫn lời nhà khoa học Thái Wiraphon Sudchada cho biết quá trình tạo mưa bắt đầu bằng việc phun muối bột vào các đám mây. Sau đó họ trộn và phun hỗn hợp calcium chloride và calcium oxide vào những đám mây đó để làm tăng kích thước. Các chuyên gia cũng phun nước đá bên dưới các đám mây để mưa nhanh hơn.

Đây không phải lần đầu tiên Thái Lan áp dụng công nghệ làm mưa nhân tạo. Nhà vua Thái Lan đã cho điều hành các dự án làm mưa nhân tạo từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước.

Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE)
Là một trong những khu vực khô cằn nhất trên thế giới, từ lâu, các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất đã chú trọng đến các biện pháp làm tăng lượng mưa hàng năm, trong đó có ứng dụng mưa nhân tạo.

Các công nghệ từng được UAE áp dụng để tạo mưa có thể kể đến như: tạo dòng ion, gây giống đám mây, dự án xây dựng núi nhân tạo. Trong đó dự án gây giống đám mây nhận được sự hợp tác của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA).

Qua những công nghệ này, mưa nhân tạo có thể xuất hiện do dòng điện đưa ion ẩm lên tầng trên tạo thành những vùng mây tích ẩm hay pháo hóa chất được bắn vào mây trong thời điểm thích hợp qua sự theo dõi của radar. Riêng núi nhân tạo có thể giúp đẩy không khí lên cao, tạo ra những đám mây sinh mưa…

Theo Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia của UAE, khoảng 558.000 USD được đầu tư nhằm tạo ra nguồn mưa nhân tạo trên toàn lãnh thổ trong năm ngoái.

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới “kêu trời”

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới "kêu trời"

Tháng 5/2000, phân nửa trong số 5.000 người dân sinh sống tại Walkerton, Canada ngã bệnh với 5 trường hợp tử vong khi phân bò lẫn vào nguồn nước giếng. Tình trạng ô nhiễm tại thị trấn bị giấu nhẹm, bỏ mặc người dân đối mặt với nhiều mối nguy hiểm hủy hoại thân thể.

Nhà vi sinh vật học Joan Rose, người từng giành giải thưởng uy tín thế giới về lĩnh vực nước sạch, hiện đang chìm trong cảm xúc lẫn lộn giữa sự thất vọng và lạc quan về tiến trình xử lý nguồn nước phục vụ dân sinh.

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới "kêu trời"

Nguồn nước ô nhiễm khiến cả thế giới “kêu trời”

Tháng 5/2000, phân nửa trong số 5.000 người dân sinh sống tại Walkerton, Canada ngã bệnh với 5 trường hợp tử vong khi phân bò lẫn vào nguồn nước giếng. Tình trạng ô nhiễm tại thị trấn bị giấu nhẹm, bỏ mặc người dân đối mặt với nhiều mối nguy hiểm hủy hoại thân thể.

Nhà sinh vật học Joan Rose đến từ Đại học Michigan, vốn rất tỏ tường với những đợt bùng phát ô nhiễm nước nghiêm trọng trên thế giới cũng phải rùng mình trước thực trạng tồi tệ ở Walkerton.

“Đó là cú sốc lớn nhất đối với tôi. Walkerton là vùng nông nghiệp nhỏ bé. Người dân nơi đây rất dễ mến. Nhưng họ phải hứng chịu 2 mầm bệnh từ nguồn cấp nước. Họ không biết con cái mình đang yếu dần đi, có nguy cơ bị suy thận, thậm chí phải lọc máu suốt phần đời còn lại. Tôi đã nhìn thấy cảnh ô nhiễm hủy hoại người dân, thấy sự đau đớn hiện hữu trong đôi mắt của họ”, Joan Rose chia sẻ.

Giáo sư Joan Rose nhận định, Walkerton là một trong những sự cố ô nhiễm môi trường tồi tệ nhất Canada. Nhưng có hàng trăm vụ việc tương tự xảy ra mỗi năm trên thế giới dù phần lớn không nghiêm trọng bằng.

Hầu hết đều xuất phát từ việc nguồn nước uống bị nhiễm chất thải. “Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 12.000 – 18.000 trường hợp mắc bệnh do nguồn nước. Tại các nước đang phát triển, cứ mỗi 3 người nhập viện lại có một trường hợp là do nước ô nhiễm. Chúng tôi không thể biết chính xác thực trạng tồi tệ như thế nào nhưng trên thế giới có tới 1,5 tỷ người không được tiếp cận nguồn nước sạch”, bà cho biết.

Tuần vừa rồi, Rose nhận được giải thưởng uy tín nhất thế giới về đóng góp phát triển nguồn nước sạch tại hội nghị ở Stockholm. Nhưng đến chính bà cũng không chắc chắn về tương lai của việc đảm bảo vệ sinh nước uống trong cộng đồng dân sinh.

“Chúng tôi bắt đầu đạt được những thành công nhất định về việc giảm tỷ lệ tử vong do bệnh gây ra qua đường dẫn nước, nhưng lại xuất hiện vấn đề lớn là tỷ lệ mắc bệnh. Mọi người đang trở nên yếu hơn. Chúng ta đang trải qua thời kỳ ô nhiễm tồi tệ nhất chưa từng có trong lịch sử”.

Số liệu thống kê phơi bày bức tranh ảm đạm. Tuần vừa rồi, bản tin của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc cho biết hàng trăm triệu người dân trên toàn thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ xấu về sức khỏe như dịch tả, thương hàn gây ra bởi các mầm bệnh trong nước. Ô nhiễm nguồn nước tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ đặc biệt đáng báo động với hơn một nửa số sông ngòi chứa mầm gây bệnh.

“Phần lớn trong số 7 tỷ người trên Trái đất phải sống chung với nguồn nước bị ô nhiễm. Chất lượng nước tại các ao hồ, sông suối và bờ biển đang xuống cấp tới mức đáng báo động. Tình trạng bắt đầu tồi tệ từ những năm 1950 khi gia tăng nguồn thải từ con người và gia súc, mức tiêu thụ nước, thuốc trừ sâu và phân bón”, bà Joan Rose cho biết.

“Chúng tôi đang cố thay đổi ngay tại chính vùng đất của mình. Nhưng thời khí hậu lại chuyển biến xấu theo từng ngày. Chúng ta biết rằng, cường độ mưa bão và hạn hán thay đổi nhiều. 50% trường hợp bị bệnh từ nguồn nước tại Mỹ mỗi năm liên quan tới hiện tượng mưa cực đoan”.

Mưa lớn và lũ lụt là tác nhân gây ra các bệnh như trùng xoắn móc câu, viêm gan, virus norovirus ảnh hưởng tiêu hóa và nhiễm trùng kí sinh cryptosporidium. “Có mối liên quan trực tiếp giữa việc nguồn nước bị ô nhiễm và dịch bệnh lây truyền. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm hay lũ lụt, tất cả các yếu tố cũng ảnh hưởng gây ra mầm bệnh. Nhiều ngước đang phát triển lại gặp khó khăn do thiếu cơ sở hạ tầng xử lý nước thải đạt chuẩn”, Rose chia sẻ thêm.

Trong khi đó, nước thải chứa hơn 100 loại virus khác nhau, trong đó nổi bật là Cyclovirus ảnh hưởng tới thần kinh của trẻ. Tốc độ lây nhiễm rất nhanh trên diện rộng. Ngay cả ếch nhái hay sao biển cũng chết dần chết mòn.

Rose cho rằng, xã hội cần đầu tư thích đáng vào cơ sở hạ tầng nước sinh hoạt. Đó là điều kiện tiên quyết giúp giảm áp lực tại các bệnh viện, tăng chất lượng đời sống người dân và tránh cho thế giới đối mặt với một thảm họa về dịch bệnh trong tương lai.

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

“Nếu không có biện pháp thay đổi, làn khói mù chết chóc này sẽ tiếp tục làm tăng tỷ lệ tử vong lên mức đáng sợ chỉ sau vài năm”, Yuyun Indradi, nhà vận động bảo vệ rừng của tổ chức Hòa bình xanh Indonesia, nhận xét.

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

Đốt rừng ở Indonesia đang cướp đi mạng sống của hàng trăm nghìn người mỗi năm

Một đám khói mù do nạn đốt rừng có thể là nguyên nhân khiến 100.000 người chết sớm vào năm ngoái, BBC hôm nay đưa tin. Hơn 90% số trường hợp tử vong ở Indonesia, phần còn lại là công dân các nước Malaysia và Singapore, theo nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học Harvard và Columbia, Mỹ.

Tình trạng ô nhiễm không khí ở Indonesia ngày càng trầm trọng do nạn đốt rừng lấy đất canh tác. Khói mù lan rộng khắp khu vực Đông Nam Á và tồn tại suốt vài tháng vào năm 2015.

Nghiên cứu sắp công bố trên tạp chí Environmental Research Letters sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh và mô hình máy tính về những ảnh hưởng tới sức khỏe để xác định tỷ lệ chết sớm. Nhóm nghiên cứu nhận định số người có nguy chết sớm nằm trong khoảng 26.300 – 174.300 và tỷ lệ trung bình hàng năm là 100.300 ca. Báo cáo của họ tập trung vào tác động lên sức khỏe của người trưởng thành và chỉ đánh giá ảnh hưởng của PM2.5, các hạt bụi lơ lửng có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 µm (micromet) có thể bị hít vào phổi.

Cơ quan quản lý thảm họa Indonesia cho biết hơn 43 triệu người dân nước này phải tiếp xúc với khói mù và nửa triệu người bị nhiễm trùng đường hô hấp nặng.

“Nếu không có biện pháp thay đổi, làn khói mù chết chóc này sẽ tiếp tục làm tăng tỷ lệ tử vong lên mức đáng sợ chỉ sau vài năm”, Yuyun Indradi, nhà vận động bảo vệ rừng của tổ chức Hòa bình xanh Indonesia, nhận xét.

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Xí nghiệp Thoát nước số 4, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội tiếp tục áp dụng công nghệ này để làm sạch hồ Hoàng Cầu và Văn Chương.

Xí nghiệp Thoát nước số 4, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội đang làm sạch các hồ Hoàng Cầu, Văn Chương bằng công nghệ Redoxy-3C tân tiến mới của Đức.

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Chế phẩm công nghệ giải cứu hồ bẩn ở Hà Nội

Sau khi thử nghiệm xử lý ô nhiễm nước hồ bằng công nghệ Redoxy-3C của Đức tại các hồ Hố Mẻ, Ba Mẫu, Giáp Bát và thu được kết quả khả quan, chiều 25/9, Xí nghiệp Thoát nước số 4, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội tiếp tục áp dụng công nghệ này để làm sạch hồ Hoàng Cầu và Văn Chương.

Những thùng chế phẩm được sản xuất theo đơn đặt hàng độc quyền của UBND TP Hà Nội từ Đức. Đây cũng là lần đầu tiên một công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường được ứng dụng tại Việt Nam. Redoxy-3C là chế phẩm của Đức, thân thiện với môi trường, chế phẩm có 3 tác dụng là loại bỏ các cation kim loại như Al, As, Cd, Cu, Pb… loại bỏ các armoni oxy hóa các chất ô nhiễm vô cơ và hữu cơ.

Công nhân Công ty Thoát nước Hà Nội kiểm tra các thiết bị và đổ chế phẩm vào máy sục, chế phẩm này sẽ được hòa tan và sục thẳng xuống lòng hồ. Hiện tại, chế phẩm này đã được thử nghiệm ở 22 hồ, ao của Hà Nội.

Việc thực nghiệm tại hiện trường chế phẩm Redoxy-3C theo 3 bước gồm lấy và phân tích mẫu trước khi xử lý, phun và rải chế phầm Redoxy-3C, tiếp theo là phân tích mẫu sau thử nghiệm.

Thông số thủy lý hóa không vượt ngưỡng cho phép để các loài sinh vật thủy sinh sinh trưởng và phát triển. Các loài thực vật nổi trên hồ không bị ảnh hưởng, ô xy trong nước nhiều hơn…

Trước đó, Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội đã tiến hành xử lý nước bị ô nhiễm ở 2 hồ tại thôn Đại Hòa (huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Đây là 2 hồ đầu tiên ở ngoại thành Hà Nội được thí điểm xử lý nước bằng chế phẩm từ Đức.

Sau thử nghiệm, độ PH kiềm, nồng độ TSS, BOD, COD… và mật độ coliform trong các hồ giảm, thông số thuỷ lý hoá không vượt ngưỡng, các loài sinh vật, thuỷ sinh sinh trưởng và phát triển tốt.

Trước khi sử dụng chế phẩm, các ao hồ sẽ được lấy mấu nước nhiều lần, ở các thời điểm khác nhau để phân tích và xử lý thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết sau khi xử lý nước bằng chế phẩm Redoxi-3C, thông thường sau 24h, nước hồ sẽ trong xanh trở lại. Trước khi sử dụng chế phẩm, các ao hồ sẽ được lấy mấu nước nhiều lần, ở các thời điểm khác nhau để phân tích và xử lý thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Khi xác định rõ liều lượng chế phẩm cần thiết một các khoa học lực lượng chức năng mới triển khai trực tiếp tại các ao, hồ. Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết, việc ứng dụng công nghệ Redoxy-3C mang lại hiệu quả, chi phí lại giảm khoảng 2/3 so với trước đây.

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Mô hình kiểm định chất lượng không khí của WHO cho thấy 92% dân số thế giới đang sống ở những nơi chứa hạt vật chất có đường kính dưới 2,5 micromet (PM2.5) vượt quá giới hạn cho phép. Khuyến cáo của WHO về khối lượng hạt vật chất PM2.5 là 10mg/m3 không khí.

Kết quả này dựa trên dữ liệu vệ tinh, mô hình vận tải hàng không và màn hình trạm mặt đất, tại hơn 3.000 địa điểm cả nông thôn và thành thị. Theo thống kê, khoảng 3 triệu người chết mỗi năm có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí ngoài trời. Năm 2012 ước tính có khoảng 6,5 triệu ca tử vong (chiếm 11,6% trường hợp tử vong trên toàn cầu) có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời.

Tiến sĩ Flavia Bustreo, Trợ lý Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết: “Ô nhiễm không khí tiếp tục đe dọa sức khỏe của bộ phận dễ bị tổn thương, nhất là phụ nữ, trẻ em và người lớn tuổi”. Gần 90% ca tử vong liên quan tới ô nhiễm không khí xảy ra ở khu vực có thu nhập thấp và thu nhập trung bình.

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Dân số trên toàn thế giới đang sống trong bầu không khí ô nhiễm

Mô hình kiểm định chất lượng không khí của WHO cho thấy 92% dân số thế giới đang sống ở những nơi chứa hạt vật chất có đường kính dưới 2,5 micromet (PM2.5) vượt quá giới hạn cho phép. Khuyến cáo của WHO về khối lượng hạt vật chất PM2.5 là 10mg/m3 không khí.

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí bao gồm khí thải của các phương tiện giao thông, sản phẩm của nhiên liệu làm chất đốt ở các gia đình, khí thải từ nhà máy công nghiệp,…Tuy nhiên, không phải tất cả ô nhiễm không khí có nguồn gốc từ hoạt động của con người mà những cơn bão bụi (ở khu vực gần sa mạc) cũng làm ảnh hưởng tới chất lượng không khí.

Tiến sĩ Mari Neira, Giám đốc WHO lên tiếng: “Cần phải nhanh chóng giải quyết các vấn đề về ô nhiễm không khí trước khi quá muộn”. Biện pháp được đưa ra là phát triển giao thông bền vững ở các thành phố, quản lý chất thải rắn, tích cực sử dụng nguồn năng lượng sạch từ thiên nhiên và đặc biệt phải giảm thiểu khí thải công nghiệp.

Ô nhiễm không khí gây ra nhiều tai nạn

Ô nhiễm không khí gây ra nhiều tai nạn

Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy ô nhiễm không khí bên trong xe hơi có thể nhiều gấp đôi so với bên ngoài do khí NO2 thường tích tụ trong một không gian nhỏ.

Một nghiên cứu xem xét số liệu trong vòng 5 năm đã cho thấy khi nồng độ khí nitơ điôxit (NO2) tăng lên một microgram trên mỗi mét khối không khí thì số va chạm tai nạn giao thông tăng lên 2%. Mặc dù tác động này có thể được giải thích khi lưu lượng giao thông tăng lên trên đường dẫn đến ô nhiễm nhiều hơn và nhiều tai nạn xảy ra hơn.

Ô nhiễm không khí gây ra nhiều tai nạn

Ô nhiễm không khí gây ra nhiều tai nạn

Thay vào đó, họ tin rằng khí độc hại làm suy yếu khả năng tập trung của tài xế, chảy nước mắt và ngứa mũi cũng có thể gây mất tập trung cho người lái xe.

Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy ô nhiễm không khí bên trong xe hơi có thể nhiều gấp đôi so với bên ngoài do khí NO2 thường tích tụ trong một không gian nhỏ.

Lutz Sager, trưởng nhóm nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Grantham về biến đổi khí hậu và môi trường tại LSE cho biết: “Mặc dù đã được chứng minh rằng ô nhiễm không khí ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và khả năng đảm nhận những công việc liên quan đến trí óc, nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên được công bố đánh giá tác động về an toàn giao thông đường bộ”.

Sager nói thêm: “Các phân tích xác định một tác nhân ô nhiễm không khí dẫn đến tai nạn đường bộ nhưng tôi chỉ có thể suy đoán về nguyên nhân của mối liên hệ. Lý luận chính của tôi là ô nhiễm không khí làm ảnh hưởng đến độ minh mẫn của tài xế”.

Ô nhiễm không khí có thể là kết quả của sự tích hợp nhiều khí độc khác nhau bao gồm cả carbon monoxide, nitrogen dioxide, sulfur dioxide, các phân tử vật chất nhỏ và ôzôn. Tuy nhiên, khí NO2 được tìm thấy có ảnh hưởng lớn nhất.

Ông Sager, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ đã chia Vương Quốc Anh thành mạng lưới của 32 khu vực, mỗi khu vực bao phủ 7700km2 và lập bản đồ số vụ tai nạn tương ứng với nồng độ ô nhiễm không khí từ năm 2009 tới năm 2014 được cung cấp bởi Cục Môi trường (Defra).

Ông đã tìm thấy rằng khi có một sự gia tăng nồng độ nitrogen điôxit lên một microgam mỗi mét khối trên mức trung bình hàng ngày là đủ để tăng số lượng trung bình các vụ tai nạn mỗi ngày. Ông Sager tính toán rằng khu vực bao gồm phía Tây Luân Đôn, nơi hứng chịu nồng độ ô nhiễm không khí nặng nhất, nếu cắt giảm 30% nồng độ NO2 có thể làm giảm số vụ tai nạn giao thông đường bộ mỗi ngày lên đến 5%.

Nồng độ NO2 trong các khu vực ô nhiễm của Luân Đôn trung bình có thể đạt 97 microgam trên mỗi mét khối không khí. Khoảng 150.000 vụ va chạm giao thông làm bị thương người đi đường tại Anh mỗi năm, nếu cắt giảm được 2% đồng nghĩa với việc có hàng ngàn vụ tai nạn được ngăn chặn.

Ông Sager nói: “Phân tích này sử dụng dữ liệu của Vương Quốc Anh nhưng tôi cho rằng phát hiện của tôi có liên quan đến nhiều nơi khác trên thế giới. Các chi phí phụ trội từ tai nạn giao thông khẳng định thêm việc cần giảm ô nhiễm không khí, đặc biệt tại các thành phố đông đúc. Phân tích của tôi cho thấy rằng tác nhân gây ô nhiễm không khí lên tai nạn giao thông đường bộ đo lường được trong nghiên cứu này nhiều khả năng bắt nguồn từ khí nitơ điôxit hoặc các chất khí ô nhiễm khác mà không phải là phân tử vật chất”.

Tuy vậy, các chuyên gia khác vẫn tỏ ra nghi ngờ về mối liên quan giữa ô nhiễm không khí và tai nạn giao thông.

Edmund King, chủ tịch AA phát biểu: “Nếu bạn cho rằng những khu vực có ô nhiễm không khí cao có nhiều tai nạn thì phải xem lại. Hãy nhìn vào Mumbai và New Delhi, hai khu vực này không khí bị ô nhiễm tồi tệ nhưng giao thông cũng hỗn loạn và phức tạp không kém. Vì vậy, tôi cho rằng, nghiên cứu này không thực tế, làm sao có thể chứng minh được độ minh mẫn của lái xe bị suy yếu do ô nhiễm”.